vanban.org

Bản án 20/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kiều Ng đối với anh Trƣơng Hoài V về việc ly hôn, nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kiều Ng đƣợc ly hôn với anh Trƣơng Hoài V. Về con chung: Giao con chung tên Trƣơng Nguyễn Phúc Th, sinh ngày 29/02/2008 cho chị Nguyễn Thị Kiều Ng trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "nguyễn thị kiều ng và trương hoài v yêu cầu ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kiều Ng đối với anh Trƣơng Hoài V về việc ly hôn, nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 20/2020/HNGĐ-ST
Ngày 29-4-2020
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, T NH B NH DƯ NG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.

2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 32/2020/TLST-HNGĐ ngày 09-01-2020 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 22/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2020, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều Ng, sinh năm 1983; thƣờng trú: Ấp Phú Th, xã Ph, huyện H, tỉnh Đ; tạm trú: Số 559/8 Quốc lộ 1A, khu phố 3, phƣờng L, quận Th, Thành phố H. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trƣơng Hoài V, sinh năm 1971; thƣờng trú: Ấp Phú Th, xã Ph, huyện H, tỉnh Đ; chỗ ở: Số 9/11A khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26-12-2019 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều Ng trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kiều Ng và anh Trƣơng Hoài V tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2009. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện Tr, tỉnh V đƣợc cấp giấy chứng nhận kết hôn số 15HT, quyển số 01/2009 ngày 03/3/2009. Chị Ng xác định quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm, lối sống, không có tiếng nói chung nên thƣờng xuyên xảy ra cãi vã. Tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Vì con nên chị đã cố gắng rất nhiều để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng không có kết quả. Đến khoảng cuối năm 2016 thì anh V chuyển đến số 9/11A khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B sinh sống. Vợ chồng chính thức sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị Ng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Trƣơng Hoài V.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con tên Trƣơng Nguyễn Phúc Th, sinh ngày 29/02/2008. Hiện nay cháu Th đang ở với chị Ng tại khu phố 3, phƣờng L, quận Th, Thành phố H. Chị Ng làm công nhân thu nhập ổn định mỗi tháng 7 triệu đồng, có thời gian chăm sóc con. Vì vậy, sau khi ly hôn chị Ng yêu cầu đƣợc trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng con và không yêu cầu anh V cấp dƣỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Trƣơng Hoài V đã đƣợc Tòa án thông báo tham gia tố tụng, thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng nhƣng anh không đến Tòa án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và ngƣời tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt nên căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn anh Trƣơng Hoài V hiện đang sinh sống tại số 9/11A khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 01/4/2020 và ngày 29/4/2020 nhƣng đều vắng mặt không lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị Kiều Ng và anh Trƣơng Hoài V tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện Tr, tỉnh V đƣợc cấp giấy chứng nhận kết hôn số 15HT, quyển số 01/2009 ngày 03/3/2009 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Chị Nguyễn Thị Kiều Ng xác định quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, lối sống, không có tiếng nói chung nên thƣờng xuyên xảy ra cãi vã. Cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng, không hạnh phúc nên từ năm 2016 anh Trƣơng Hoài V chuyển ra ngoài sống riêng, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Hôn nhân thực tế giữa chị Nguyễn Thị Kiều Ng và anh Trƣơng Hoài V đã không tồn tại trong một thời gian dài nên chị Nguyễn Thị Kiều Ng yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Trƣơng Hoài V.

Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt đƣợc mục đích đó vợ chồng cần phải thƣơng yêu, tin tƣởng, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt, xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc. Chị Nguyễn Thị Kiều Ng xác định quan hệ hôn nhân của vợ chồng có nhiều mâu thuẫn và hiện cả hai đã sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Anh Trƣơng Hoài V đã đƣợc Tòa án triệu tập làm việc và tham gia hòa giải nhƣng đều vắng mặt, không cung cấp lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị Kiều Ng và anh Trƣơng Hoài V đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Do đó, chị Nguyễn Thị Kiều Ng yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Trƣơng Hoài V là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Trƣơng Nguyễn Phúc Th, sinh ngày 29/02/2008. Hiện nay cháu Th đang ở cùng chị Ng tại khu phố 3, phƣờng L, quận Th, Thành phố H. Sau khi ly hôn chị Ng yêu cầu đƣợc trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng con. Khi Tòa án giải quyết việc ly hôn cần xem xét đến sự phát triển của con chƣa thành niên để quyết định việc giao con cho cha hay mẹ trực tiếp nuôi dƣỡng. Xét thấy, cháu Th từ trƣớc đến nay sống cùng mẹ vẫn phát triển tốt. Chị Ng có việc làm và thu nhập 7.000.000 đồng/tháng, có chỗ ở ổn định, có thời gian đảm bảo cho việc chăm sóc và nuôi dƣỡng con; hơn nữa trong bản tự khai cháu Thuân có mong muốn đƣợc tiếp tục sống với mẹ. Vì vậy, chị Ng yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung là có căn cứ, phù hợp với các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị Ng không yêu cầu anh V cấp dƣỡng nuôi con, xét đây là ý chí tự nguyện của chị nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kiều Ng phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 và các Điều 227, 238, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kiều Ng đối với anh Trƣơng Hoài V về việc ly hôn, nuôi con.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kiều Ng đƣợc ly hôn với anh Trƣơng Hoài V.

- Về con chung: Giao con chung tên Trƣơng Nguyễn Phúc Th, sinh ngày 29/02/2008 cho chị Nguyễn Thị Kiều Ng trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng.

- Về cấp dƣỡng nuôi con: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Sau ly hôn, chị Ng và anh V đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trƣờng hợp anh V lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu đến việc chị Ng nuôi con thì chị có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kiều Ng phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0039973, ngày 08/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S THẨM

Cỡ chữ