vanban.org

Bản án 20/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho chị Đặng Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Đức Đ, sinh ngày 05/9/2006 và Nguyễn Phương T sinh ngày 24/8/2013 cho chị Đặng Thị M chăm sóc nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Đặng Thị M xin ly hôn anh Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN ND HUYỆN YÊN THẾ
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2020/HNGĐ -ST
Ngày: 14/8/2020
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ – TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hữu Luyện

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Cương

2. Ông Nguyễn Văn Chiến

- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Vi Văn Cảnh - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2020/TLST-HNGĐ ngày 02/01/2020 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/7/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2020/QĐST-DS ngày 22/7/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị M, sinh năm 1985 (Có mặt)

Địa chỉ: Xóm D, xã NH, huyện LG, tỉnh Bắc Giang

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985 (Vắng mặt)

Địa chỉ: TN, thị trấn BH, huyện YT, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo chị Nguyễn Thị M trình bày: Chị kết hôn với Nguyễn Văn T năm 2005 có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Bố Hạ, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống ở thị trấn Bố Hạ, huyện Yên Thế, vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến cách đây khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn do anh T không chịu làm ăn, hay uống rượu đánh đập vợ con, chị và anh T ly thân từ năm 2016 đến nay. Nay vợ chồng tình cảm không còn, không thể đoàn tụ được do vậy chị xin ly hôn với anh T.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Đức Đ, sinh ngày 05/9/2006 và Nguyễn Phương T sinh ngày 24/8/2013 hiện đang ở với chị, sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cả hai con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, công nợ chung và ruộng canh tác chung: Vợ chồng chị không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Sau khi thụ lý Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh T không đến Tòa án làm việc do đó Tòa án không lấy được lời khai của anh T.

*Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử là đúng với quy định của pháp luật.

+ Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

- Đối với nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

+ Đối với bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật

+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 56; Điều 57; Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/21016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí tòa án , xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M: Xử cho chị M được ly hôn anh T.

Về con chung: Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Đức Đ, sinh ngày 05/9/2006 và Nguyễn Phương T sinh ngày 24/8/2013 cho chị Đặng Thị M chăm sóc nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.

- Về án phí: Chị M phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa Tòa án nhân dân huyện Yên Thế nhận định:

Về Tố tụng: Căn cứ đơn khởi kiện, tài liệu kèm theo đơn của chị Đặng Thị M và các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án xác định đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân gia đình “xin ly hôn, nuôi con”.

Bị đơn anh Nguyễn Văn T có địa chỉ tại Thống Nhất, thị trấn Bố Hạ, huyện Yên Thế nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án anh T đã được tống đạt hợp lệ nhưng không có mặt vì vậy vụ án không tiến hành thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải, tại phiên tòa lần thứ nhất mở ngày 22/7/2020 anh T vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay anh T tiếp tục vắng mặt không có lí do, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn T.

Về nội dung: Chị M kết hôn với anh T vào năm 2005 trên cơ sở tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Bố Hạ. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân gia đình. Quá trình vợ chồng chung sống thời gian đầu hòa thuận, hạnh phúc đến đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh T không tu trí làm ăn, hay uống rượu đánh đập vợ con, Dẫn đến vợ chồng thường xuyên sảy ra đánh cãi chửi nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Nay chị Mai xin ly hôn, phía anh T đã được Tòa án thông báo nhiều lần nhưng không có bất kỳ quan điểm gì và cũng không đến tham gia phiên họp công khai chứng cứ hòa giải. Xét thấy chính quyền địa phương cung cấp vợ chồng chị Mai, anh T mâu thuẫn đến nay đã trầm trọng, kéo dài, vợ chồng sống ly thân thời gian đã lâu, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thị M là có căn cứ cần chấp nhận xử cho chị Đặng Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Đức Đ, sinh ngày 05/9/2006 và Nguyễn Phương T sinh ngày 24/8/2013 hiện đang ở với chị Mai, sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cả hai con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử thẩy rằng kể từ năm 2016 khi vợ chồng chị M, anh T ly thân hai con sống cùng chị M từ đó đến nay, hai cháu được học hành phát triển bình thường do đó tránh sự xáo trộn không cần thiết cho trẻ nhỏ cần tiếp tục giao hai con chung cho chị M chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chị M không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con.

Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác chung: Chị M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị M phải chịu 300.000đ tiền án phí Hôn nhân gia đình

Về chi phí thông báo: Chị M phải chịu 3.000.000đ chi phí Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, chị M đã nộp đủ số tiền này

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 56; Điều 57; Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/21016 của Ủy ban thường vụ quốc hội , Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho chị Đặng Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Đức Đ, sinh ngày 05/9/2006 và Nguyễn Phương T sinh ngày 24/8/2013 cho chị Đặng Thị M chăm sóc nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.

Về án phí: Chị Mai phải chịu 300.000đ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ đã nộp tại biên lai thu số AA/2016/0002236, ngày 02/01/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

Về chi phí tố tụng: Chị phải chịu 3.000.000đ chi phí Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, chị đã nộp đủ số tiền này.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt án vắng mặt hoặc từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ