- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị Thanh Đ - Đinh Văn T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị Thanh Đ đối với anh Đinh Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH —————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2020/HNGĐ-ST. Ngày 25-5-2020 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thư.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Nhung;
Bà Dương Thị Mỹ Liên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hảnh. - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thướng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 26/2020/TLST- HNGĐ ngày 31 tháng 01 năm 2020 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2020; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Thanh Đ, sinh năm 1988.
- Bị đơn: Anh Đinh Văn T, sinh năm 1985.
Cùng cư trú tại: Ấp AĐ, xã AT, huyện Trảng Bàng, (nay là khu phố AĐ, phường AT, thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh
(Chị Đ, anh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Đặng Thị Thanh Đ trình bày:
Chị và anh T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2016, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã AT, huyện Trảng Bàng (nay là phường AT, thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh. Sau khi cưới, vợ chồng chị về chung sống cùng gia đình anh T tại ấp AĐ, xã AT (nay là khu phố AĐ, phường AT). Vợ chồng cùng làm nhân công nhân, kinh tế độc lập với gia đình. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ, chồng bất đồng quan điểm về cuộc sống và việc chi tiêu kinh tế trong gia đình, không thể hiểu và thông cảm cho nhau nên thường xuyên gây gỗ nhau. Ngoài ra, giữa chị và gia đình chồng cũng xảy ra nhiều mâu thuẫn, không thể hòa hợp chung sống với nhau. Tháng 10-2019, vợ chồng gây gỗ gay gắt nên chị về nhà mẹ ruột sinh sống tại ấp AĐ, xã AT (nay là khu phố AĐ, phường AT), vợ chồng tự ly thân đến nay. Nay chị yêu cầu được ly hôn anh T.
Về con chung: Vợ chồng chị có 01 người con chung là cháu Đinh Minh A, sinh ngày 10-5-2018 và hiện chị đang mang thai được 08 tháng. Cháu A hiện đang sống cùng anh T, cháu rất khỏe mạnh và phát triển bình thường, không bị bệnh tật, dị tật bẩm sinh. Khi ly hôn, chị đồng ý để anh T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu A, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng chị không nợ ai, không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, tại Biên bản lấy lời khai ngày 27-4-2020, bị đơn anh Đinh Văn T trình bày:
Anh thống nhất với lời trình bày của chị Đ về thời gian chung sống, có đăng ký kết hôn và nơi sinh sống của vợ chồng sau khi kết hôn. Cuộc sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn là do chị Đ yêu cầu anh về nhà chị Đ chung sống nhưng anh không đồng ý nên giữa anh và gia đình chị Đ xảy ra mâu thuẫn, gây gỗ nhau. Vợ chồng anh đã tự ly thân từ tháng 10-2019 đến nay, không còn quan tâm đến nhau, không thể hàn gắn được vì đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Nay anh đồng ý ly hôn chị Đ.
Về con chung: Vợ chồng anh có 01 người con chung là cháu Đinh Minh A, sinh ngày 10-5-2018. Khi ly hôn, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu A, không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng anh không nợ ai, không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình xem xét quyết định:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị Thanh Đ đối với anh Đinh Văn T. Chị Đ được ly hôn anh T.
Về con chung: Giao anh T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Đinh Minh A, sinh ngày 10-5-2018. Ghi nhận anh T không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ và anh T không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
Về tố tụng: Chị Đặng Thị Thanh Đ và anh Đinh Văn T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đ và anh T chung sống với nhau vào năm 2016, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã AT, huyện Trảng Bàng (nay là phường AT, thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh. Do đó, hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc nhưng dần xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và vấn đề kinh tế gia đình nên vợ chồng chị Đ, anh T đã tự ly thân từ tháng 10-2019 đến nay, không còn quan tâm đến nhau, không ai có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ chung sống lại với nhau. Nay chị Đ yêu cầu ly hôn và anh T cũng đồng ý ly hôn chị Đ.
Xét thấy, chị Đ và anh T tự nguyện thuận tình ly hôn là phù hợp theo quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, do chị Đ và anh T đều vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đ đối với anh T, cho chị Đ được ly hôn anh T là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.
Về con chung: Cháu Đinh Minh A, sinh ngày 10-5-2018 hiện đang theo sống cùng anh T. Khi ly hôn, anh T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu A và chị Đ cũng đồng ý. Do đó, Hội đồng xét xử giao anh T tiếp tục nuôi dưỡng cháu A là phù hợp quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Ghi nhận anh T không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ và anh T không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
Như phân tích trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.
Án phí: Chị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị Thanh Đ đối với anh Đinh Văn T.
Chị Đặng Thị Thanh Đ được ly hôn anh Đinh Văn T.
2. Về con chung:
Giao anh Đinh Văn T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đinh Minh A, sinh ngày 10-5-2018.
Ghi nhận anh T không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con.
Chị Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ và anh T không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
4. Án phí: Chị Đặng Thị Thanh Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0017882 ngày 31 tháng 01 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bàng (nay là thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh. Chị Đ đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Báo cho chị Đ, anh T biết có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Trảng Bàng; - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng; - UBND phường AT; - Lưu: Án văn, hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đá ký) Nguyễn Thị Minh Thư |