vanban.org

Bản án 20/2020/DSPT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 17/02/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/02/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c khoản 2 Điều 308 của B lu t tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 26, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc h i.

Chấp nh n yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Cao Hoàng K, bà Dương Thị L1; Chấp nh n kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long; sửa m t phần bản án dân sự sơ thẩm số 118/2019/DSST ngày 22 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long. Chấp nh n m… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Căn c khoản 2 Điều 308 của B lu t tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 26, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc h i.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20 /2020/DS-PT
Ngày: 17 - 02 -2020
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Nữ Phà Ca

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Trường

Bà Trần Thị Ngọc Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Yến – Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 17 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 199/2019/TLPT-DS ngày 24 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 118/2019/DSST ngày 22 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo, bị kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 12/2020/QĐPT-DS ngày 30 tháng 01 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Đ; Sinh năm: 1959; Cư trú tại: Đường T, khóm 1, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Trương Thị Đ: Ông Tô Vĩnh H; Cư trú tại: Đường Đ, phường B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (Văn bản ủy quyền ngày 02/6/2017).

- Bị đơn: Ông Cao Hoàng K; Bà Dương Thị L1; Cùng cư trú tại: Đường M, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Cao Hoàng K và bà Dương Thị L1: Bà Đặng Thị Bạch L2; Cư trú tại: Đường P, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. (Văn bản ủy quyền ngày 03/02/2020).

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Cao Hoàng K, bà Dương Thị L1.

- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 28/4/2017, ngày 23/6/2017, ngày 11/6/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trương Thị Đ và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn anh Tô Vĩnh H trình bày:

Ngày 24/5/2013, bà cho ông K và bà L1 vay số tiền 310.000.000 đồng, l i suất là 5 /tháng, mục đ ch vay để làm ăn, thời hạn vay 12 tháng. Khi vay có làm biên nh n nợ, ông K và bà L1 có thế chấp cho bà 02 giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất thu c thửa số 642, diện t ch 108 m2 và thửa 651, diện t ch 72,3 m2; tờ bản đồ số 32 đất tọa lạc tại khóm 6, phường N, thành phố V. Tuy nhiên, hai bên không làm hợp đồng thế chấp mà làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/5/2013. Mục đ ch làm hợp đồng chuyển nhượng là để đảm bảo cho số tiền ông K và bà L1 đ vay, thực tế không có việc chuyển nhượng đất. Bà đ giao đủ số tiền 310.000.000 đồng cho ông K và bà L1 tại Văn phòng Công ch ng P cùng ngày.

Đến ngày 21/9/2015, bà với ông K và bà L1 thỏa thu n thống nhất ra công ch ng l p văn bản hủy hợp đồng đối với thửa số 642. Đồng thời ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/9/2015 đối với thửa số 651, tờ bản đồ số 32, diện t ch 72,3m2, giá chuyển nhượng 60.000.000 đồng. Bà L1 và ông K không có trả cho bà được khoản tiền nào khi l p văn bản hủy hợp đồng đối với thửa số 642. T khi vay cho đến nay th ông K và bà L1 chưa trả tiền vốn cho bà mà chỉ tiền l i trả được 02 tháng b ng 31.000.000 đồng.

Hiện nay Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố V đ thu hồi giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất thửa số 651, đ cấp đổi giấy ch ng nh n theo dự án VLAP năm 2014. Đối với quyền sử dụng đất thửa số 642, ngày 02/10/2015 ông K và bà L đ chuyển nhượng cho chị Trần Diễm P (con dâu ông K và bà L1).

Nay bà yêu cầu ông Cao Hoàng K và bà Dương Thị L1 phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà số tiền vốn vay 310.000.000 đồng và l i suất là 1.125 /tháng, t nh t ngày 24/5/2013 cho đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/10/2019); Vô hiệu các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/5/2013, 21/9/2015 giữa ông Cao Hoàng K và bà Dương Thị L1 với bà Trương Thị Đ được Văn phòng công ch ng P ch ng thực.

Tại tờ tường trình ngày 16/8/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Cao Hoàng K, bà Dương Thị L1 và người đại diện theo ủy của bị đơn là bà Đặng Thị Bạch L2 trình bày:

Ngày 24/5/2013, ông K, bà L1 và bà Đ có thỏa thu n ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 642, diện t ch 108m2 và thửa số 651, diện tích 72,3m2, tờ bản đồ số 32, tọa lạc tại khóm 6, phường N, thành phố V, giá chuyển nhượng là 310.000.000 đồng; phương th c thanh toán: Thanh toán b ng đồng Việt Nam, thanh toán trực tiếp b ng tiền mặt, thanh toán m t lần ngay vào ngày hai bên ký tên vào văn bản hợp đồng và được cơ quan ch c năng có thẩm quyền ch ng nh n.

Ngày 21/9/2015, ông, bà với bà Đ đến Văn phòng công ch ng P l p văn bản hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa số 642.

Cùng ngày 21/9/2015, ông bà với bà Đ ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 651, giá chuyển nhượng 60.000.000 đồng, được Văn phòng công ch ng P ch ng thực. Phần đất thửa số 651 bà Đ chưa sang tên, hiện do ông bà đ ng tên giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất và quản lý sử dụng phần đất thửa số 651. Đến ngày 02/10/2015, ông bà chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 642 cho chị Trần Diễm P.

Ông bà đ trả 01 hợp đồng trị giá 250.000.000 đồng (văn bản hủy hợp đồng ngày 21/9/2015), còn 01 hợp đồng trị giá 60.000.000 đồng (hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/9/2015 đối với thửa số 651).

Nay ông bà đồng ý trả cho bà Đ số tiền còn nợ lại 60.000.000 đồng và tiền l i 1,125 /tháng t ngày 24/5/2013 đến ngày xét xử và yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/9/2015 đối với thửa số 651 giữa ông Cao Hoàng K và bà Dương Thị L1 với bà Trương Thị Đ được Văn phòng công ch ng P ch ng thực.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 118/2019/DSST ngày 22 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long đ quyết định:

Căn c vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 266, Điều 273, Điều 147, khoản 2 Điều 92 của B lu t tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Căn c vào các Điều 129, khoản 2 Điều 136, Điều 471, Điều 474, Điều 476, Điều 478 của B lu t Dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 468, điểm a khoản 1 Điều 688 của B lu t Dân sự năm 2015. Tuyên xử:

Chấp nh n yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Đ.

Bu c ông Cao Hoàng K và bà Dương Thị L1 liên đới có nghĩa vụ trả cho bà Trương Thị Đ số tiền vốn vay 310.000.000 đồng, tiền l i 241.257.500 đồng, tổng c ng tiền vốn, l i 551.257.500đ (năm trăm năm mươi mốt triệu hai trăm năm mươi bảy ngh n năm trăm đồng).

Vô hiệu các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/5/2013, 21/9/2015 giữa ông Cao Hoàng K và bà Dương Thị L1 với bà Trương Thị Đ được Văn phòng công ch ng P ch ng thực.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án ph , nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự theo lu t định.

Ngày 04 tháng 11 năm 2019, bị đơn ông Cao Hoàng K và bà Dương Thị L1 có đơn kháng cáo với n i dung yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 06 tháng 11 năm 2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long có quyết định kháng nghị số 04/QĐKNPT-VKS-DS với n i dung đề nghị sửa m t phần bản án do Tòa án cấp sơ thẩm nh n định, đánh giá ch ng c không khách quan, toàn diện gây thiệt hại đến quyền và lợi ch hợp pháp của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của bị đơn là bà Đặng Thị Bạch L2 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Không đồng ý trả cho bà Đ số tiền vốn vay là 310.000.000 đồng, tiền l i 241.275.500 đồng, tổng c ng vốn l i là 551.257.500 đồng. Xác định chỉ còn nợ bà Đ số tiền vốn 60.000.000 đồng, lãi phát sinh t ngày 21/9/2015 đến khi xét xử sơ thẩm.Yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất l p ngày 24/5/2013 và ngày 21/9/2015 giữa ông Cao Hoàng K và bà Dương Thị L1 với bà Trương Thị Đ đối với thửa đất 651.

Nguyên đơn bà Đ và người đại diện hợp pháp của bà Đ không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bị đơn và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long. Xác định số tiền vay 310.000.000 đồng ph a bị đơn chưa trả nên biên nh n vay ngày 25/12/2013 ph a nguyên đơn vẫn còn giữ bản chính.

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên kháng nghị đề nghị sửa m t phần bản án sơ thẩm. Số tiền vay 250.000.000 đồng ngày 21/9/2015 bị đơn đ trả xong cho nguyên đơn nên các bên ký văn bản hủy hợp đồng đối với thửa đất 642. Còn lại số tiền vay 60.000.000 đồng các bị đơn chưa trả nên bu c các bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền vốn vay 60.000.000 đồng và l i phát sinh t ngày vay đến khi xét xử sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp lu t của Thẩm phán, H i đồng xét xử và người tham gia tố tụng: Tất cả đều tuân thủ đúng quy định của pháp lu t t khi thụ lý vụ án đến xét xử phúc thẩm.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nh n kháng cáo của ông K, bà L1 và chấp nh n kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long. Xác định ngày 21/9/2015 ông K, bà L1 đ trả cho bà Đ số tiền vay 250.000.000 đồng nên các bên đ ký văn bản hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa 642. Ông K, bà L1 còn thiếu lại số tiền 60.000.000 đồng nên hai bên ký kết lại hợp đồng chuyển nhượng thửa 651. Do đó, bu c ông K, bà L1 trả cho bà Đ số tiền vay 60.000.000 đồng và l i t ngày 21/9/2015 đến khi xét xử sơ thẩm b ng số tiền 93.075.000 đồng. Án ph dân sự sơ thẩm bà Đ là người cao tuổi nên được miễn; bà L1, ông K phải chịu án ph dân sự sơ thẩm 4.653.500 đồng và không phải chịu án ph dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Theo nguyên đơn bà Trương Thị Đ, người đại diện hợp pháp nguyên đơn bà Đ, bị đơn ông Cao Hoàng K, bà Dương Thị L1 và người đại diện hợp pháp của các bị đơn đều th a nh n ngày 24/5/2013 ông K, bà L1 có vay của bà Đ số tiền 310.000.000 đồng nhưng hai bên thỏa thu n l p hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng hai thửa đất gồm thửa đất số 642, diện t ch 108m2 và thửa số 651, diện t ch 72,3m2, tờ bản đồ số 32, tọa lạc tại khóm 6, phường N, thành phố V nh m đảm bảo cho hợp đồng vay. Trong đó, hai bên thỏa thu n thửa đất số 642, diện t ch 108m2 nh m đảm bảo cho số tiền vay 250.000.000 đồng, thửa số 651, diện t ch 72,3m2 nh m đảm bảo cho số tiền vay 60.000.000 đồng và bà Đ giữ bản ch nh các giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất trên. Thời điểm vay, hai bên không l p biên nh n vay nhưng do ông K, bà L1 không đóng lãi đầy đủ nên ngày 25/12/2013 ông K, bà L1 l p biên nh n xác nh n còn nợ bà Đ số tiền vốn 310.000.000 đồng và bà Đ đồng ý cho ông K, bà L1 trả dần vốn, l i h ng tháng 10.000.000 đồng.

Bà Đ th a nh n ngày 21/9/2015, tại văn phòng công ch ng P giữa bà Đ với ông K, bà L1 có ký văn bản hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa số 642, diện t ch 108m2 và bà Đ trả lại bản ch nh giấy ch ng nh n quyền sử dụng thửa đất 642 cho ông K, bà L1. Đồng thời, cùng ngày 21/9/2015 giữa bà Đ với ông K, bà L1 ký kết lại hợp đồng chuyển nhượng thửa 651, diện t ch 72,3m2. Sau đó, ông K, bà L1 l p thủ tục tặng cho thửa đất 642, diện t ch 108m2 cho con là chị Trần Diễm P và bà Đ không tranh chấp.

Phía bị đơn ông K, bà L1 cho r ng trên thửa đất 642 có căn nhà cấp 4 của ông bà đang sinh sống nên ngày 21/9/2015, ông bà đ trả cho bà Đ số tiền 250.000.000 đồng vốn và l i phát sinh 15.000.000 đồng của số tiền trên và bà Đ với ông K, bà L1 ký văn bản hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa 642, bà Đ đ trả lại bản ch nh giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất thửa 642 cho ông bà, số tiền vốn còn nợ lại 60.000.000 đồng các bên ký kết lại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa 651. Còn nguyên đơn bà Đ th cho r ng ngày 21/9/2015 ông K, bà Đ không có trả số tiền vốn vay 250.000.000 đồng và l i phát sinh nhưng do ông K, bà L1 h a ủy quyền cho bà Đ được nh n số tiền 78.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, còn lại số tiền khoảng 170.000.000 đồng khi thi hành án xong bên bà L1, ông K sẽ trả sau, do cán b Chi cục thi hành án thành phố yêu cầu bà Đ giao n p giấy ch ng nh n quyền sử dụng thửa đất 642 để thi hành án vì bà L1, ông K có nghi vụ thi hành khoản nợ khác. Tuy nhiên, bà L1, ông K không th a nh n lời tr nh bày của bà Đ mà cho r ng chỉ ủy quyền bà Đ nh n thay số tiền được thi hành án ch không có thỏa thu n bà Đ được hưởng số tiền thi hành án và vụ việc thi hành đ không thi hành được, ngoài ra bà Đ cũng không cung cấp được ch ng c khác ch ng minh cho lời tr nh bày của m nh là có căn c . Mặt khác, theo Quyết định số 653/QĐ-CCTHA, ngày 25/3/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V th thời điểm tháng 9/2015 bà L1 là người được thi hành án tương đương số tiền 78.910.700 đồng ch không phải là người phải thi hành án.

Xét bà Đ th a nh n việc l p hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất 642, thửa 651 nh m đảm bảo quyền lợi của ph a bà Đ trong trường hợp ông K, bà L1 không trả tiền số tiền vay 310.000.000 đồng. Bà Đ th a nh n sau khi vay ông K, bà L1 giao cho bà giữ bản ch nh giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất thửa 642, thửa 651 và trong quá tr nh vay ph a bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả l i nên ngày 25/12/2013 ông K, bà L1 l p biên nh n xác nh n còn nợ bà Đ 310.000.000 đồng và bà Đ đồng ý cho ông K, bà L1 trả dần vốn, l i h ng tháng 10.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa bà Đ cho r ng do số tiền vay ông K, bà L1 chưa trả nên bà Đ vẫn còn giữ bản ch nh biên nh n nợ. Xét thời điểm l p biên nh n xác nh n nợ của ông K, bà L1 xảy ra trước ngày 21/9/2015 khi bà Đ, ông K, bà L1 l p văn bản hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 642 nên lời tr nh bày của bà Đ là không có căn c để chấp nh n.

Do đó, có căn c xác định số tiền vay 310.000.000 đồng vào ngày 21/9/2013 ông K, bà L1 đ trả vốn cho bà Đ số tiền 250.000.000 đồng và l i phát sinh đối với số tiền trên. Xét án sơ thẩm nh n định do bị đơn ông K, bà L1 th a nh n ngày 24/5/2013 có nh n của bà Đ số tiền 310.000.000 đồng nhưng đ trả xong vốn, l i cho bà Đ nên căn c khoản 2 Điều 92 của B lu t tố tụng dân sự là sự th t không phải ch ng minh và ph a bị đơn phải có nghĩa vụ ch ng minh đ trả số tiền trên cho bà Đ là không phù hợp với các ch ng c có trong hồ sơ vụ án. V v y, chấp nh n kháng cáo của bị đơn ông K, bà L1 và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long.

Còn lại số tiền vốn vay 60.000.000 đồng ông K, bà L1 th a nh n chưa trả và đồng ý trả số tiền trên cho bà Đ nên yêu cầu khởi kiện của bà Đ đối với số tiền trên là có căn c nên được chấp nh n. Tuy nhiên, tại phiên tòa chị L2 người đại diện hợp pháp của ông K, bà L1 cho r ng ngày 21/9/2015 khi trả số tiền vốn vay 250.000.000 đồng th ông K, bà L1 đ đóng l i 15.000.000 đồng của khoảng tiền vay 310.000.000 đồng nên đồng ý trả l i số tiền trên t ngày 21/9/2015 đến ngày xét xử sơ thẩm. Xét lời tr nh bày của người đại diện hợp pháp của ông K, bà L1 là không phù hợp với lời khai của các bị đơn, ông K, bà L1 và nh n định tại đoạn [1] của bản án này. V ông K, bà L1 đều th a nh n ngày 21/9/2015 chỉ trả số tiền vay 250.000.000 đồng và l i phát sinh của số tiền trên nên hai bên ký văn bản hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 642. Ông K, bà L1 không cung cấp được ch ng c ch ng minh số tiền vay 60.000.000 đồng đ trả l i đến ngày 21/9/2015 và ph a bà Đ cũng không th a nh n ngày 21/9/2015 phía ông K, bà L1 có trả l i đối với số tiền vay trên. Tuy nhiên, tại phiên tòa nguyên đơn bà Đ và bà L2 người đại diện hợp pháp của bị đơn ông K, bà L1 xác định sau thời điểm vay ngày 24/5/2013 thì ph a bị đơn đ đóng được hai tháng lãi của số tiền vay 310.000.000 đồng. Tại phiên tòa, các đương sự đồng ý khấu tr số tiền l i ph a bị đơn đ đóng là 6.000.000 đồng vào phần tiền l i mà ph a bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn. Xét sự tự nguyện thỏa thu n của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp lu t nên được chấp nh n.

V v y, cấp phúc thẩm điều chỉnh lại như sau:

T ngày 24/5/2013 đến ngày 22/10/2019 là 2.342 ngày. Tiền vốn [60.000.000 đồng x 1,125 /tháng x 2.342 ngày] : 30 = 52.695.000 đồng. Khấu tr 6.000.000 đồng bị đơn đ đóng cho nguyên đơn nên số tiền l i còn lại là:

52.695.000 đồng – 6.000.000 đồng = 46.695.000 đồng.Tổng c ng vốn l i là 106.695.000 đồng.

Do các đương sự đều th a nh n hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất l p ngày 24/5/2013, 21/9/2015 giữa ông Cao Hoàng K và bà Dương Thị L1 với bà Trương Thị Đ nh m che giấu hợp đồng vay và đồng ý vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất l p ngày 24/5/2013, ngày 21/9/2015 giữa ông Cao Hoàng K, bà Dương Thị L1 với bà Trương Thị Đ đối với thửa đất thửa số 651, diện t ch 72,3m2, tờ bản đồ số 32, tọa lạc tại khóm 6, phường N, thành phố V là phù hợp với Điều 127, Điều 129, Điều 137 của B lu t dân sự năm 2005 nên được chấp nh n. Về h u quả hợp đồng vô hiệu do các đương sự xác định phần đất trên t khi l p hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho đến nay th ph a bị đơn là người quản lý tài sản và xác định giao dịch trên là vay tài sản nên các bên không có thiệt hại và không yêu cầu xử lý h u quả hợp đồng vô hiệu.

Về án ph dân sự sơ thẩm: Bà Đ phải chịu án ph đối với yêu cầu khởi kiện bị bác.

Số tiền 551.257.500 đồng - 106.695.000 đồng = 444.562.500 đồng = [20.000.000 đồng + (444.562.500 đồng - 400.000.000 đồng = 44.562.500 đồng x 4%) = 21.782.500 đồng. Tuy nhiên, bà Đ sinh năm 1959, đến nay đ trên 60 tuổi là người cao tuổi có đơn xin miễn án ph theo Điều 2 của Lu t người cao tuổi và tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc h i th bà Đ p thu c đối tượng được miễn n p án ph dân sự sơ thẩm.

Ông K, bà L1 phải chịu án ph dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho bà Đ.

Số tiền 106.695.000 đồng x 5 = 5.334.700 đồng. Các bị đơn không phải chịu án ph phúc thẩm.

V các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c khoản 2 Điều 308 của B lu t tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 26, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc h i.

Chấp nh n yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Cao Hoàng K, bà Dương Thị L1; Chấp nh n kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long; sửa m t phần bản án dân sự sơ thẩm số 118/2019/DSST ngày 22 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

Áp dụng Điều 2 Lu t người cao tuổi; Điều 127, Điều 129, Điều 137, Điều 471, Điều 474, Điều 476, Điều 478 của B lu t Dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 468, điểm a khoản 1 Điều 688 của B lu t Dân sự năm 2015;

1. Chấp nh n m t phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Đ về việc yêu cầu ông Cao Hoàng K và bà Dương Thị L1 trả cho bà Đ số tiền vốn, l i đối với số tiền 60.000.000 đồng t ngày 24/5/2013 đến ngày 22/10/2019.

2. Bu c bị đơn ông Cao Hoàng K và bà Dương Thị L1 có nghĩa vụ liên đới trả tiền vốn, l i vay cho bà Đ b ng số tiền 106.695.000 đồng (M t trăm lẻ sáu triệu sáu trăm ch n mươi lăm ngàn đồng).

Kể t ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền l i của số tiền còn phải thi hành án theo m c l i suất quy định tại khỏan 2 Điều 468 của B lu t dân sự năm 2015.

3. Vô hiệu các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/5/2013, ngày 21/9/2015 giữa bà Trương Thị Đ với ông Cao Hoàng K và bà Dương Thị L1 đối với thửa đất số 651, diện t ch 72,3m2, tờ bản đồ số 32, tọa lạc tại khóm 6, phường N, thành phố V được ch ng thực tại Văn phòng công ch ng Phương Anh.

4. Không chấp nh n yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Đ về việc yêu cầu ông Cao Hoàng K và bà Dương Thị L1 có nghĩa vụ trả cho bà Đ số tiền vốn l i đối với số tiền vay 250.000.000 đồng và lãi phát sinh t ngày 24/5/2013 đến ngày 22/10/2019 tương đương số tiền 444.562.500 đồng

5. Về án ph dân sự:

Miễn án ph dân sự sơ thẩm cho bà Đ. Số tiền bà Đ đ n p tạm ng án ph số tiền 6.550.000 đồng theo biên lai thu số 2765 ngày 07/7/2017 và số tiền 5.835.000 đồng theo biên lai thu số 3399 ngày 21/6/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long sẽ được hoàn trả cho bà Đ.

Ông K, bà L1 phải án ph dân sự sơ thẩm số tiền 5.334.700 đồng và không phải chịu án ph dân sự phúc thẩm. Số tiền ông K, bà L1 đ n p tạm ng án ph dân sự phúc thẩm 600.000 đồng theo biên lai thu số 5005, 5006 ngày 04/11/2019 của Chi cục thi hành án thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long được khấu tr . Sau khi khấu tr bu c ông K, bà L1 liên đới n p tiếp số tiền 4.734.700 đồng (bốn triệu bảy trăm ba mươi bốn ngàn bảy trăm đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Lu t thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể t ngày tuyên án.

Cỡ chữ