vanban.org

Bản án 20/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 13/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Mã Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: bị cáo Mã Văn N 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/02/2019. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015; điểm a, b, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mã Văn Ng - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Mã Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHỤC HÒA
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2019/HSST
Ngày 13/6/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤC HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nông Thanh Điệp

Các Hội thẩm nhân dân:

- bà Hoàng Thị Thu

- ông Trần Văn Sinh

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: ông Hoàng Quốc Khánh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phục Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phục Hòa tham gia phiên tòa: bà Đàm Thị Hòa – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2019 Tòa án nhân dân huyện Phục Hòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2019/HSST ngày 14/5/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2019/HSST-QĐTA ngày 03/6/2019 đối với:

1. Bị cáo Mã Văn N- sinh năm 1981.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản L xã C huyện B tỉnh Bắc Kạn.

Nghề nghiệp: Không nghề; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 04/12 phổ thông; con ông Mã Xuân Ng, sinh năm 1947; con bà Nông Thị T, sinh năm 1950; Vợ: Đàm Thị B, sinh năm 1982; Con: 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2001; Anh, chị, em ruột: bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 03 anh chị em.

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2019 đến nay.

2. Người làm chứng:

- Trần Văn Đ, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Làng C xã M huyện Đ tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Lục Văn N, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm P thị trấn H huyện P tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 02 giờ 30 phút ngày 16/02/2019, tổ công tác Công an huyện Phục Hòa tiến hành tuần tra kiểm soát tại khu vực nhà hoang ở xóm Pò Tập thị trấn Tà Lùng đã phát hiện và bắt quả tang Mã Văn N đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức chích, đồng thời tàng trữ trái phép 12 (mười hai) gói giấy bạc bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy (N khai là heroine). Tổ công tác đã tiến hành thu giữ và niêm phong đúng quy định, đồng thời tạm giữ của Mã Văn N số tiền 1.320.000đ (một triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng), 01 điện thoại di động bàn phím cơ nhãn hiệu Nokia đã qua sử dụng, 01 chứng minh thư nhân dân và 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Mã Văn N để phục vụ điều tra.

Tại cơ quan điều tra Mã Văn N đã khai nhận: Do nghiện ma túy nên khoảng 16 giờ ngày 15/02/2019, N đã đi sang Trung Quốc mua ma túy với một người đàn ông không biết tên, lai lịch với số tiền là 01 triệu đồng được 01 cục ma túy đem về chia nhỏ thành 17 tép với mục đích vừa sử dụng vừa bán kiếm lời. N đã sử dụng 02 tép, đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì N bán 02 tép ma túy giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) cho một người đàn ông không quen biết ở khu vực nhà hoang. Đến khoảng 02 giờ ngày 16/02/2019 khi N đang sử dụng 01 tép ma túy thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang và thu giữ 12 tép ma túy.

Ngày 16/02/2019 trước sự chứng kiến của Mã Văn N, Công an và Viện kiểm sát nhân dân huyện Phục Hòa đã phối hợp mở niêm phong tang vật để cân trọng lượng và niêm phong mẫu gửi giám định đối với số chất bột màu trắng ngà (nghi là ma túy) thu giữ của Mã Văn N. Kết quả cân số chất bột màu trắng ngà (nghi là ma túy) có trọng lượng (khối lượng) thu giữ của Mã Văn N là 0,37g (không phẩy ba bảy gam).

Ngày 18/02/2019 Công an huyện Phục Hòa đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với số chất bột màu trắng ngà đã thu giữ của Mã Văn N.

Tại bản Kết luận giám định số 60/GĐMT ngày 28/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận đối với số chất bột màu trắng ngà (nghi là ma túy) đã thu giữ của Mã Văn N:“Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine”.

Lời khai nhận tội của Mã Văn N phù hợp với lời khai của người làm chứng Trần Văn Đ, Lục Văn N và các tài liệu chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được.

Quá trình điều tra xác định số tiền 1.320.000đ (một triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng) trong đó 200.000đ là tiền bán ma túy mà có, số tiền còn lại là do bị cáo lao động (bốc vác) làm thuê mà có. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia bị cáo không sử dụng để mua, bán ma túy mà chỉ dùng liên lạc cá nhân. Còn 01 chứng minh thư nhân dân và 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Mã Văn N là giấy tờ tùy thân.

Qua công tác điều tra, do không xác định được người đàn ông Trung Quốc đã bán ma túy cho bị cáo và người đàn ông mua ma túy với bị cáo, nên không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với đối tượng này.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Mã Văn N về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 đúng như Cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 13/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phục Hòa và đề nghị Hội đồng xét xử: Xử phạt bị cáo Mã Văn N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, do bị cáo không có nghề nghiệp. Đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phục Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phục Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Do nghiện ma túy nên khoảng 16 giờ ngày 15/02/2019, N đã đi sang Trung Quốc mua ma túy với một người đàn ông không biết tên, lai lịch với số tiền là 01 triệu đồng được 01 cục ma túy đem về chia nhỏ thành 17 tép với mục đích vừa sử dụng vừa bán kiếm lời. Cụ thể N đã sử dụng 02 tép, đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì N bán 02 tép ma túy cho một người đàn ông không quen biết ở khu vực nhà hoang với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Đến khoảng 02 giờ ngày 16/02/2019 khi N đang sử dụng 01 tép ma túy thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang và thu giữ 12 tép ma túy.

Kết quả cân trọng lượng (khối lượng) của 12 tép ma túy là 0,37 gam (không phẩy ba bảy gam). Kết luận giám định là ma túy, loại: Heroine.

Tại phiên toà bị cáo Mã Văn N đã thừa nhận mục đích mua ma túy để vừa sử dụng vừa bán nhằm thu hồi vốn để xoay vòng mua ma túy, điều đó phù hợp với lời khai và các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được.

Như vậy, hành vi của bị cáo Mã Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy’’ được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng số 19/CTr-VKS ngày 13/5/2019 của VKSND huyện Phục Hòa tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy’’ là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Mã Văn N là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy, nhưng để có tiền mua ma túy sử dụng, bị cáo đã chia lẻ để bán cho các đối tượng nghiện nhằm thu hồi vốn xoay vòng mua ma túy, điều đó góp phần làm gia tăng các đối tượng nghiện ma túy trên địa bàn, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an trong khu vực, bị quần chúng nhân dân lên án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quản lý nhà nước về chất ma túy, vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên, xét về nhân thân bị cáo chưa có tiền sự, tiền án, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, đồng thời bị cáo tự thú nhận về hành vi bán ma túy, ngoài ra bị cáo có bố là ông Mã Xuân Ng được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba (theo quyết định số 83/KT/CTN ngày 12/12/1997) và là người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học (theo giấy chứng nhận số 0476 ngày 25/5/2017 của Sở Lao động - Thương binh và xã hội tỉnh Bắc Kạn), đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có. Vậy khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ xem xét.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên luận tội và đề nghị áp dụng các điều luật, mức hình phạt, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.

Phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì thêm.

Phần nói lời sau cùng: bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa lỗi lầm, sớm trở về với gia đình trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong ghi: "số 60/GĐMT-KL: trả 0,2831g (không phẩy hai tám ba một gam). Mẫu hoàn trả vụ Mã Văn N có hành vi ma bán trái phép chất ma túy xảy ra ngày 16/02/2019 tại Pò Tập thị trấn Tà Lùng huyện Phục Hòa tỉnh Cao Bằng”. Đây là chất cấm lưu hành, cần tịch thu để tiêu hủy.

- Đối với số tiền 1.320.000đ (một triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng) trong đó 1.120.000đ (một triệu một trăm hai mươi nghìn đồng) là do bị cáo lao động (bốc vác) làm thuê mà có, nên trả lại cho bị cáo, riêng 200.000đ có nguồn gốc từ việc bán ma túy mà có, sẽ bị tịch thu để sung ngân sách nhà nước.

- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 01 chứng minh thư nhân dân và 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Mã Văn N là giấy tờ tùy thân. Đây là tài sản riêng, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 251 và điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

- Tuyên bố: bị cáo Mã Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: bị cáo Mã Văn N 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/02/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015; điểm a, b, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

- Tịch thu để tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ghi: "số 60/GĐMT-KL: trả 0,2831g (không phẩy hai tám ba một gam). Mẫu hoàn trả vụ Mã Văn N có hành vi ma bán trái phép chất ma túy xảy ra ngày 16/02/2019 tại Pò Tập thị trấn Tà Lùng huyện Phục Hòa tỉnh Cao Bằng”.

- Tịch thu để sung ngân sách nhà nước: 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

- Trả lại cho bị cáo: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã qua sử dụng, máy bị nứt vỡ góc trên mặt sau, bàn phím cơ, màu trắng đen có số seri 356988013121641; 01 chứng minh nhân dân có số 095070364 mang tên Mã Văn N; 01 giấy phép lái xe hạng A1 có số 060034002184 và số tiền 1.120.000đ (một triệu một trăm hai mươi nghìn đồng), nhưng tạm giữ số tiền nêu trên để đảm bảo thi hành án.

Xác nhận số vật chứng của vụ án hiện đang được tạm giữ tại kho tang vật của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phục Hòa.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Mã Văn N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

"Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ