vanban.org

Bản án 20/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 13/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Huy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Huy H 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Huy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ V
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2019/HS-ST
Ngày: 13-3-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Quan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Kiên.

2. Ông Lê Minh Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoài Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2019/TLST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22 /2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Huỳnh Huy H, sinh năm 1971 tại Trà Vinh; nơi cư trú: ấp L, xã P, huyện H, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Hiếu Đ và bà Lư Thị S; vợ, con: Không.

Tiền án: Không.

Tiền sự: 01 lần, năm 2016 bị Công an xã P, huyện H, tỉnh Vĩnh Long xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Nhân thân: Năm 1997 bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; năm 2003 bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy”; năm 2007 bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy”; năm 2012 bị Ủy ban nhân dân huyện H đưa vào cơ sở cai nghiện thời hạn 24 (hai mươi bốn) tháng; năm 2015 bị Công an xã P, huyện H, tỉnh Vĩnh Long xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo được tại ngoại, có mặt.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Bà Lư Thị S, sinh năm 1950; nơi cư trú: ấp L, xã P, huyện H, tỉnh Vĩnh Long - Là mẹ của bị cáo; có mặt.

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn D - Luật sư Văn phòng luật sư N thuộc Đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Long; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Trần Bảo T, sinh năm 1991; nơi cư trú: ấp L, xã P, huyện H, tỉnh Vĩnh Long; vắng mặt.

- Người chứng kiến: Nguyễn Hữu S, sinh năm 1967; nơi cư trú: đường N, Khóm D, Phường M, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Huy H là đối tượng nghiện ma túy. Để có chất ma túy sử dụng sáng ngày 07/02/2018, H điều khiển xe mô tô biển số 64B1- 047.66 đến khu vực đường B, Khóm D, Phường M, thành phố V tìm gặp người phụ nữ tên thường gọi M (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) mua 01 gói ma túy với giá 240.000 đồng về sử dụng, khi trên đường về đến Khu vực Tổ B, đường Bé, Khóm D, Phường M, thành phố V thì gặp Lực lượng Công an thành phố V đang tuần tra phát hiện và bắt quả tang tay trái của H đang cầm 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có nhiều cục, chứa chất bột màu trắng. Công an thành phố V tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Huy H khai nhận: Bản thân sử dụng và nghiện chất ma túy từ năm 2008 cho đến nay. Để có ma túy sử dụng nên vào ngày 07/02/2018 bị cáo từ nhà điều khiển xe mô tô biển số 64B1-047.66 đến Khu vực khóm D, thuộc M, thành phố V gặp người phụ nữ không biết họ tên và địa chỉ, mua 240.000 đồng ma túy, trong lúc đang tàng trữ gói ma túy chưa sử dụng thì bị Công an thành phố V bắt quả tang.

Người đại diện hợp pháp bị cáo là bà Lư Thị S trình bày: Qua xét hỏi bị cáo, bà S xác định hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bị cáo là vi phạm pháp luật nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, bà không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Bà S xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo trình bày quan điểm: Thống nhất toàn bộ nội dung cáo trạng và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo là người bị hạn chế về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo rất thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên cho bị cáo mức án thấp nhất.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Bảo T vắng mặt, trong quá trình điều tra xác định xe mô tô biển số 64B1-047.66 thuộc sở hữu của chị, chị cho bị cáo H mượn để sử dụng nhưng không biết bị cáo dùng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị T nhận lại tài sản xong, chị T không có ý kiến và yêu cầu gì.

Người chứng kiến Nguyễn Hữu S vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra cũng đã xác định diễn biến sự việc đúng như cáo trạng đã nêu.

Tại bản Kết luận giám định số 76/KLGĐ-PC09 ngày 08/02/2018 (BL 17) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận: Chất bột màu trắng bên trong gói giấy trong phong bì được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1638 gam, loại: Hêrôin.

Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKSND-TPVL ngày 27/01/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V truy tố bị cáo Huỳnh Huy H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, khẳng định nội dung cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật giữ nguyên việc truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Huy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, các điểm q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Huỳnh Huy H mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong sau giám định có chữ ký của người chứng kiến Đào Nhựt Duy K, giám định viên Phạm Thị Hồng H, có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận, không ý kiến đối đáp; lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố Tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu chứng cứ khác như các biên bản hoạt động điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản ghi lời khai của người chứng kiến, lời khai bị cáo trong suốt quá trình điều tra và cũng như tại phiên tòa hôm nay và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, xét có căn cứ để xác định vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 07/02/2018, tại Khu vực Tổ 17, đường B, Khóm D, Phường M, thành phố V, bị cáo Huỳnh Huy H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có thành phần Hêrôin, khối lượng 0,1638 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân thành phố V truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tội phạm do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước ta về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, là nguyên nhân mầm mống phát sinh nhiều loại tội phạm khác và còn là một trong những nguyên nhân gây lây lan căn bệnh HIV- AIDS. Lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, đã nhận thức được hành vi mà mình thực hiện là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý quyết tâm thực hiện. Mặc khác, bị cáo biết mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật sẽ bị pháp luật xử lý nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, điều này thể hiện sự xem thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần thiết áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo với mức án nghiêm. Do đó, Hội đồng xét xử, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền sự về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có các tình tiết giảm nhẹ như trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo bị hạn chế về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s, q khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 khi Hội đồng xét xử xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Đối với người bán ma túy, do bị cáo xác định không rõ họ tên địa chỉ cụ thể, nên cơ quan điều tra không làm việc được, khi nào làm việc được sẽ điều tra, xử lý sau.

Xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) gói niêm phong sau giám định có chữ ký của người chứng kiến Đào Nhựt Duy K, giám định viên Phạm Thị Hồng H, có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long: Đây là chất ma túy Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Về hình phạt bổ sung: Đây là loại tội phạm ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt tiền bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xét thấy, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, có hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố Tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xét đề nghị của người bào chữa chỉ định cho bị cáo và đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố V là có căn cứ chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Huy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm s, q khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Huy H 01 (một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày chấp hành án.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29 tháng 01 năm 2019 giữa Công an thành phố V với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V được xử lý như sau:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong sau giám định có chữ ký của người chứng kiến Đào Nhựt Duy K, giám định viên Phạm Thị Hồng H, có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long.

3. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Huỳnh Huy H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa chỉ định cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để xin Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cư trú để xin Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ