vanban.org

Bản án 20/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 17/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Quang L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về điều khoản áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; Điều 39; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Trịnh Quang L: Tù Chung thân, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/5/2018. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Quang L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Quang L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––
Bản án số: 20/2019/HS-ST
Ngày: 17-01-2019

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nam Hà.

Thẩm phán: Ông Mai Văn Quang.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Thái, bà Trần Thị Dung và ông Nguyễn Hồ Phong.

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Tuấn Dũng - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 17/01/2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 537/2018/TLST-HS ngày 06/12/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 715/2018/QĐXXST-HS ngày 19/12/2018 đối với bị cáo TRỊNH QUANG L, sinh năm 1983; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú trước đây: Số 39/41 phố G, phường X, quận MNK, thành phố Hà Nội; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Phòng 3A01, khu TT, số 79 phố Đ, phường TĐ, quận HM, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trịnh Văn Dung và bà Lại Thị Kim Lan; tiền án: Bản án số 191/2003/HSST ngày 08/01/2003 của Toà án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Bản án số 123/2003/HSST ngày 19/6/2003 của Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 278/2007/HSST ngày 27/8/2007 của Toà án nhân dân quận MNK, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 194/2009/HSST ngày 17/8/2009 của Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 26 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 225/2014/HSST ngày

1/8

15/9/2014 của Toà án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 122/2015/HSST ngày 15/9/2015 của Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt 32 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: Chưa; nhân thân: Ngày 13/6/2011 và ngày 06/9/2011, Công an phường Nam Đồng, quận HM, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về các hành vi “Gây rối trật tự công cộng và Trộm cắp tài sản”; năm 2013, Công an quận MNK, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/5/2018 tại Trại tạm giam số 1 của Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Gia Linh - Luật sư thuộc Văn phòng luật sư APEC Việt Nam - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Đặng Thúy Nga, sinh năm 1990; ĐKNKTT và trú tại: Tổ 22B, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Có mặt.

2. Bà Lại Thị Kim Lan, sinh năm 1960; ĐKNKTT và trú tại: Phòng 3A01, khu TT, số 79 phố Đ, phường TĐ, quận HM, thành phố Hà Nội. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 01 giờ 20 phút ngày 19/5/2018 tại cửa nhà 10E và 10D tổ 49, phường Phương Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, tổ công tác đội thuộc Đại đội 2 - Trung đoàn Cảnh sát cơ động - Công an thành phố Hà Nội kiểm tra hành chính đối với Trịnh Quang L đang điều khiển chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda SH biển kiểm soát 29-C1-185.74 chở Đặng Thúy Nga đã phát hiện và thu giữ ở móc treo phía trước xe môtô có: 01 túi nilon màu đỏ, bên trong có 01 lọ nhựa hình trụ màu trắng, kích thước khoảng (8,5x5)cm chứa 172 viên nén màu hồng, hình tròn, trên có logo LV; 01 hộp giấy màu trắng kích thước khoảng (8,5x14)cm, bên trong có 03 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng (6x10)cm đều chứa tinh thể màu trắng. L khai đó là ma túy do L vừa mua với mục đích bán lại kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L, niêm phong số vật chứng trên. Ngoài ra, còn tạm giữ của Trịnh Quang L 01 xe môtô nhãn hiệu Honda SH màu đỏ, BKS 29C1-185.74, số khung RLHJF 4224 FY 011389, số máy JF42E1011447; 03 điện thoại di động (01 điện thoại OPPO màu đen, sim 0927992983; 0898066635; 01 điện thoại di động Iphone 6 màu trắng, sim 0961 288496; 01 điện thoại Nokia màu đen và số tiền

2/8

24.000.000 đồng; tạm giữ của Đặng Thúy Nga 01 điện thoại di động Sam sung màu hồng, sim 1: 01266653333, sim 2: 0868810225 bị vỡ màn hình; số tiền 1.000.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 4880/KLGĐ-PC54 ngày 25/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội đã kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 03 túi nilon đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 299,16 gam; 172 viên nén hình tròn màu hồng trên bề mặt mỗi viên có in chữ LV đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 66,2 gam.

Quá trình điều tra, Trịnh Quang L khai: Năm 2009, L chấp hành án tại trại giam Thanh Lâm và quen biết với đối tượng tên Huấn. Khoảng 03 giờ ngày 17/5/2018, L gặp Huấn tại chợ đồ cũ ngã tư Lê Duẩn - Giải Phóng - Đại Cồ Việt

- Xã Đàn, Huấn và L thỏa thuận mua bán trái phép chất ma túy với nhau. Khoảng 22 giờ ngày 18/5/2018, tại cổng Công viên Thống Nhất, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, L mua của Huấn 03 lạng ma túy đá với giá 30.000.000 đồng với mục đích bán lại kiếm lời và được Huấn cho thêm 172 viên ma túy tổng hợp loại viên nén màu hồng có lôgô LV. Huấn để ma túy ở móc treo phía trước, cạnh chỗ để chân xe môtô Honda SH biển kiểm soát 29-C1-185.74 của Huấn và cho L mượn chiếc xe này đi đón bạn gái. Đến khoảng 01 giờ ngày 19/5/2018, khi L đang điều khiển chiếc xe nói trên chở bạn gái là Đặng Thúy Nga đến khu vực trước số nhà 10E và 10D tổ 49, phường Phương Liên, quận Đống Đa thì bị kiểm tra, bắt giữ.

Đối với chiếc xe môtô gắn biển kiểm soát 29-C1-185.74 có số khung RLHJF422FY011389, số máy JF42E-1011447, L khai mượn của Huấn, khi giao xe, Huấn không giao giấy tờ đăng ký xe, L không biết chiếc xe này là tang vật của vụ án khác. Qua xác minh, chiếc xe trên là của chị Nguyễn Thị Thanh Mai (Sinh năm 1991; ĐKNKTT: Xóm Thụy, thôn Lũng Nam, xã Quốc Tuấn, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình; trú tại: Số 259, ngõ 35, phố Khương Hạ, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội, nay là số 667A, phố Vũ Tông Phan, phường Khương Đình). Khoảng tháng 11/2015, chị Mai mua chiếc xe trên tại cửa hàng bán xe máy Kường Ngân tại phố Nguyễn Lương Bằng, quận Đống Đa với giá 73.800.000 đồng, sau đó đăng ký quyền sở hữu tại Công an huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, được cấp Giấy đăng ký xe số 006455 có biển kiểm soát 17-B-177.91. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 16/4/2017, chị Mai dựng xe trước cửa nhà số 259, ngõ 35, phố Khương Hạ, phường Khương Đình, quận Thanh

3/8

Xuân, Hà Nội thì bị mất trộm. Sau đó, anh Phạm Văn L, sinh năm 1985, là chồng chị Mai đã đến Công an phường Khương Đình, quận Thanh Xuân trình báo việc mất xe như trên. Tại Kết luận giám định số 3958/C54-P2 ngày 27/7/2018 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an xác định chiếc xe nhãn hiệu Honda SH, màu đỏ, số khung RLHJF422FY011389, số máy JF42E-1011447 là nguyên thủy. Chị Mai đề nghị được trả lại chiếc xe. Ngày 10/9/2018, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả chiếc xe Honda SH cho chị Mai. Trịnh Quang L khai không trộm cắp chiếc xe nói trên của người khác nên chưa đủ căn cứ khẳng định L có hành vi trộm cắp nên Cơ quan điều tra đã tách rút tài liệu liên quan đến chiếc xe trên để điều tra làm rõ xử lý sau.

Chiếc biển kiểm soát 29-C1-185.74 là biển được cấp cho chiếc xe Honda Wave màu nâu đồng, số khung 435980, số máy 3235869, chủ xe tên Nguyễn Vi Dân (Sinh năm 1958; trú tại: Số 64 phố Lê Duẩn, phường Cửa Nam, quận MNK, Hà Nội). Đến năm 2014, anh Dân bán chiếc xe nói trên cho một người đàn ông không quen biết với giá 9.300.000 đồng.

Đối với chiếc điện thoại Nokia màu đen, cơ quan điều tra tạm giữ của L, L khai trước đó ngồi uống nước tại cổng công viên Thống nhất, bị một đối tượng cầm nhầm điện thoại của L, L cầm nhầm của người đó do hai chiếc điện thoại giống nhau. L không biết ai là chủ sở hữu của chiếc điện thoại nói trên, L khai không trộm cắp chiếc điện thoại này của người khác nên không đủ căn cứ xử lý hình sự đối với Trịnh Quang L về hành vi trộm cắp điện thoại.

Đối với số tiền 24.000.000 đồng, L khai là tiền vay của bà Lại Thị Kim Lan (Là mẹ đẻ của L). Cơ quan điều tra đã lấy lời khai bà Lan, phù hợp với lời khai của L. Bà Lan không biết và không liên quan đến việc L mua bán trái phép chất ma tuý và đề nghị Cơ quan pháp luật trả lại số tiền cho bà.

Đối với đối tượng tên Huấn (L khai là người bán ma tuý cho L), L khai không có số điện thoại của Huấn. Xác minh tại Trại giam Thanh Lâm - Bộ Công an, kết quả không xác định được Huấn là đối tượng nào. Do không đủ thông tin nên Cơ quan điều tra không có cở sở tiếp tục xác minh làm rõ.

Đối với chị Đặng Thuý Nga, quá trình điều tra xác định, Nga không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Trịnh Quang L nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Cáo trạng số 428/CT-VKS-P1 ngày 05/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Trịnh Quang L về tội “Mua bán trái

4/8

phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi vi phạm như đã nêu trên và đề nghị được xem xét giảm nhẹ hình phạt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Trịnh Quang L: Tù Chung thân; tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ; trả lại 02 chiếc điện thoại cho bị cáo; trả lại 01 chiếc điện thoại và 1.000.000 đồng cho chị Nga; trả lại 24.000.000 đồng cho bà Lan; tạm giữ 01 điện thoại di động Nokia và 01 biển số xe môtô để tiếp tục điều tra làm rõ. Bà Lan và chị Nga đề nghị được nhận lại tài sản đã bị thu giữ. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị xem xét áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 để xử phạt bị cáo tù có thời hạn; vì bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; số ma túy mua bán chưa phát tán ra ngoài xã hội nên chưa gây thiệt hại; có bố tham gia Thanh niên xung phong trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ; có hoàn cảnh kinh tế và gia đình khó khăn, éo le; vợ chồng ly hôn; con chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố bị cáo trong vụ án, các Cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự; không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.

Khoảng 01 giờ 20 phút ngày 19/5/2018 tại trước cửa nhà số 10E-10D tổ 49, phường Phương Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, Công an thành phố Hà Nội bắt quả tang Trịnh Quang L đang mang 365,36 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để bán để kiếm lời. Hành vi nêu trên của bị cáo Trịnh Quang L đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết tăng nặng định khung “Methamphetamine có trọng lượng từ 100 gam trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã viện dẫn để truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

5/8

Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng; nhận thức rõ tác hại và hậu quả khôn lường của việc mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng . . . trái phép các chất ma túy là Nhà nước nghiêm cấm nhưng vì đam mê mù quáng bị cáo vẫn phạm tội. Hành vi đó chẳng những gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội; xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước mà còn là nguyên nhân gây lan truyền tệ nghiện ngập ma tuý, bệnh xã hội nguy hiểm; làm suy thoái về kinh tế, hủy hoại hạnh phúc gia đình và làm phát sinh các tội phạm khác.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo phần nào thành khẩn; ăn năn hối cải; có bố là Thanh niên xung phong là những tình tiết giảm nhẹ được Hội đồng xét xử áp dụng theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về nhân thân, bị cáo đã nhiều lần bị kết án chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh bản thân, tiếp tục phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội lần này thuộc trường hợp tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù thật nghiêm khắc nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm ma túy đang ngày càng gia tăng, nhức nhối trên địa bàn Thủ đô và cả nước. Với khối lượng chất ma túy nêu trên, nhân thân của bị cáo thì cần thiết phải áp dụng hình phạt tù không thời hạn như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tại phiên tòa mới thỏa đáng.

Ngoài hình phạt chính, căn cứ quy định tại Điều 30 và khoản 5 Điều 194 của Bộ luật hình sự thì lẽ ra cần áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt bị cáo một khoản tiền để sung công quỹ Nhà nước nhưng xét bị cáo không có công ăn việc làm, không có thu nhập, hoàn cảnh kinh tế và gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung này.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với các đồ vật tài sản thu giữ của Trịnh Quang L: Số ma túy và chiếc biển kiểm soát xe môtô 29-C1-185.74 đã thu giữ cần tịch thu để tiêu hủy; 01 chiếc điện thoại di động Nokia màu đen có 01 sim, 01 điện thoại di động Oppo màu đen có 01 sim và 01 điện thoại Iphone màu vàng trắng có 01 sim được bị cáo sử dụng vào việc phạm tội hoặc có liên quan đến tội phạm nên tịch thu để sung công quỹ Nhà nước.

6/8

- Đối với chiếc điện thoại di động Samsung màu hồng có 02 sim bị vỡ màn hình và 1.000.000 đồng thu giữ của chị Đặng Thúy Nga không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho chị Đặng Thúy Nga.

- Đối với số tiền 24.000.000 đồng thu giữ của Trịnh Quang L: L và bà Lại Thị Kim Lan đều khai L vay của bà lan để mua xe máy nhưng chưa kịp mua; xét thấy không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bà Lan.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Quang L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về điều khoản áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; Điều 39; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Trịnh Quang L: Tù Chung thân, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/5/2018.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015,

3.1) Tịch thu, tiêu hủy: 365,36 gam Methamphetamine đã thu giữ (Được niêm phong trong 01 hộp giấy kích thước 6x10x15cm, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng Quân, bị cáo Trịnh Quang L, anh Phạm Mạnh Huy, chị Đặng Thúy Nga và anh Đoàn Quốc Tuấn); 01 biển số xe 29-C1-185.74;

3.2) Trả lại chị Đặng Thúy Nga 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) và 01 điện thoại di dộng Samsung màu hồng, có 02 sim, đã bị vỡ màn hình. Trả lại bà Lại Thị Kim Lan 24.000.000 đồng (Hai mươi bốn triệu đồng).

3.3) Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động Nokia màu đen, có 01 sim; 01 điện thoại di động Oppo màu đen, có 01 sim; 01 điện thoại di động Iphone màu vàng trắng, có 01 sim.

(Số tiền 25.000.000 đồng hiện đang trong tài khoản số 3949 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội tại kho bạc Nhà nước quận Hà Đông theo Ủy nhiệm chi lập ngày 21/11/2018 của Phòng Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp - Công an thành phố Hà Nội. Tình trạng số vật chứng còn lại như

7/8

Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội ngày 09/11/2018).

4. Về án phí: Bị cáo Trịnh Quang L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ