vanban.org

Bản án 20/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương Tuyên án 27/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về điều luật áp dụng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Tú - Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIA LỘC - TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2019/HS-ST
Ngày 27/3/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Minh Yến.

Các Hội thẩm nhân dân :

Bà Bùi Thị Thúy.

Bà Nguyễn Thị Lan

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ- Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc tham gia phiên toà: Ông Phạm Sỹ Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 27/3/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2019/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2019/QĐXXST-HS ngày 15/3/2019 đối với bị cáo:

Bùi Văn T, sinh năm 1994 tại thành phố H, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú: Số A, xóm H, phường Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn B(đã chết) và bà Mai Thị C; Vợ: Phạm Thị M, có 01 con 02 tuổi ; Tiền sự; Tiền án: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/11/2018 đến ngày 30/11/2018, chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Kim Chi- Công an tỉnh Hải Dương đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

+ Chị Phạm Thị M, 1995. Địa chỉ: Số A, xóm H, phường Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương (có mặt).

+ Chị Bùi Thị P, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số B, đường P, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương (có mặt).

+ Anh Đinh Văn L, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số C, ngõ D, đường Q, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).

- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Kim Đ, sinh năm 1978. Địa chỉ: Khu D, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ ngày 28/11/2018, Bùi Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo biển kiểm soát 52S4-1656 đến nhà bạn là anh Đinh Văn L, sinh năm 1990; trú tại số C, ngõ D đường Q, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương, H rủ anh L đến nhà một người bạn mới quen tên là B ở xã H, huyện G, tỉnh Hải Dương chơi, anh L đồng ý. Do bản thân nghiện ma túy đá nên khi điều khiển xe mô tô đến khu vực gần UBND thị trấn G, huyện Gi, tỉnh Hải Dương, T nảy sinh ý định tìm mua ma túy đá để sử dụng. T dừng xe, bảo L đứng chờ để đi có việc riêng. T đi bộ một mình mục đích tìm mua ma túy đá, T đi bộ được một đoạn thì gặp một thanh niên khoảng 25 tuổi, nhìn giống người nghiện ma túy nên T chủ động hỏi và mua được của người này 01 túi nilon nhỏ màu trắng, bên trong đựng ma túy đá với giá tiền 500.000 đồng. T cầm túi ma túy đá mua được trong lòng bàn tay trái rồi quay ra chỗ L đứng đợi, sau đó T tiếp tục điều khiển xe chở L đến xã H, huyện G, tỉnh Hải Dương. Khi T điều khiển xe đến khu vực một trường học nằm trên đường liên xã H - Đ thuộc địa phận thôn C, xã H, huyện G, tỉnh Hải Dương, T dừng xe lại, gọi điện thoại để B ra đón. Trong khi đứng T chờ B, L đi vệ sinh thì T cho túi ma túy đá đang cầm ở tay trái vào trong lỗ tay nắm điều khiển bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 52S4-1656 để cất giấu. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T bị lực lượng Công an huyện Gia Lộc phối hợp cùng Công an xã H, huyện Gphát hiện, bắt quả tang. Thu giữ 01 túi nilon nhỏ màu trắng, bên trong có chứa chất rắn, dạng tinh thể màu trắng, T cất giấu trong lỗ tay nắm điều khiển bên trái của xe mô tô BKS 52S4-1656. T khai nhận bên trong túi nilon trên là ma túy đá, T cất giấu để sử dụng cho bản thân.

Tại Kết luận giám định số 623/KLGĐ-PC09 ngày 01/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận:

Chất rắn (dạng tinh thể) mầu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu M, ghi thu của Bùi Văn T, gửi đến giám định khối lượng là: 0,392 gam (Không phẩy ba trăm chín mươi hai gam) là ma túy, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Bị cáo khai nhận đã có hành vi cất giấu trái phép trong lỗ tay nắm điều khiển bên trái của xe mô tô BKS 52S4-1656 01 túi nilon màu trắng bên trong đựng ma túy đá có khối lượng là 0,392 gam thì bị phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng. Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Cáo trạng số 20/CT-VKS-GL ngày 27/02/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy’’. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày tạm giữ 28/11/2018. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,341 gam Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gia Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Bùi Văn T tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 20 giờ ngày 28/11/2018, tại khu vực đường liên xã thôn C, xã H, huyện G, tỉnh Hải Dương, bị cáo Bùi Văn T có hành vi cất giấu trái phép trong lỗ tay nắm điều khiển bên trái của xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo biển kiểm soát 52S4-1656, 01 Ti nilon màu trắng, bên trong có chứa ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,392 gam thì bị lực lượng Công an huyện Gia Lộc phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức hành vi đi mua ma túy cất giấu để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Xác định Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc đối với bị cáo là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội nên việc xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự là cần thiết có vậy mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội có hiệu quả.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy mặc dù bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, xong bị cáo phạm tội nghiêm trọng do lỗi cố ý nên cần xử nghiêm bắt bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo trở thành người tốt.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Bùi Văn T mua ma túy cất giấu để sử dụng cho bản thân không có mục đích tư lợi nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Đối với 0,341 gam Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định, đây là chất Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy.

- Đối với chiếc điện thoại OPPO có lắp 02 sim Công an huyện Gia Lộc thu giữ của bị cáo khi bắt giữ . Quá trình điều tra đã xác định được chiếc điện thoại này thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Phạm Thị M vợ bị cáo T, T khai sử dụng để liên lạc cho bạn tên là B ở H, G để hỏi đường đến nhà B chơi không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lộc đã trả lại chiếc điện thoại di động trên cho chị M. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo biển kiểm soát 52S4-1656, quá trình điều tra xác định chiếc xe này thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Bùi Thị P là chị gái của T. Chị P cho vợ chồng T mượn xe trước đó để sử dụng làm phương tiện đi lại hàng ngày. Khi T sử dụng chiếc xe mô tô này làm phương tiện phạm tội vào tối ngày 28/11/2018, chị Ph không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lộc đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị P. Việc xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lộc là có căn cứ phù hợp quy định của pháp luật nên HĐXX không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các vấn đề khác: Đối với người bán ma túy đá cho Bùi Văn T, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lộc chưa xác định được là ai, ở đâu nên chưa có căn cứ để xử lý.

Đối với anh Đinh Văn L là người đi chơi cùng bị cáo Bùi Văn T vào tối ngày 28/11/2018 nhưng anh L không biết việc T mua ma túy đá và cất giấu ma túy để sử dụng nên không có căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về điều luật áp dụng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 28/11/2018.

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,341gam Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì dán kín niêm phong số 623/KLGĐ -PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/3/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương).

5. Về án phí: Bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ