- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điề…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh B và kháng cáo của ông Lại Văn Ư, anh Lại Văn K; giữ nguyên phần hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm: 100/2018/HS-ST ngày 16/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2019/HS-PT Ngày:13-3-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tuấn
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Hòa
Ông Lê Thành Tân
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Thành Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 103/2018/TLPT-HS ngày 26 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Thanh B do có kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 100/2018/HS-ST ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thanh B, sinh năm 1986; nơi cư trú: Ấp A, xã C, huyện H, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Ngọc L; có vợ và 02 người con; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa vi phạm pháp luật; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo:
- Bị hại: Nguyễn Thị N1 (chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Lại Văn Ư, sinh năm 1954 (có mặt)
2. Lại Văn K, sinh năm 1986 (có mặt)
3. Lại Thị Thu B1, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Cùng nơi cư trú: Ấp D, xã E, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ ngày 16/3/2018, bị cáo Nguyễn Thanh B điều khiển xe mô tô ba bánh biển số 61L7-0765 trên đường X theo hướng từ Phường Y về Phường P, thành phố V để chở hàng thuê. Khi đến đoạn đường thuộc Khóm M, Phường P, bị cáo B điều khiển xe để bánh sau bên phải đi vào làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ. Khi thấy bà Nguyễn Thị N1 đi ở phía trước trên làn đường dành cho người đi bộ cùng chiều với xe của bị cáo. Bị cáo B tiếp tục cho xe chạy về phía trước thì thùng xe bên phải của bị cáo va chạm vào bên trái bà N1, làm bà N1 ngã xuống đường bị thương. Bị cáo B không đưa bà N1 đi cấp cứu mà tiếp tục điều khiển xe bỏ trốn. Bà N1 được đưa đi cấp cứu, đến ngày 21/3/2018 thì bị tử vong. Khi biết bà N1 chết, ngày 26/03/2018 bị cáo B đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V đầu thú.
Theo bản giám định pháp y số 140/KLGĐ-PC54 ngày 23/3/2013 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận nguyên nhân tử vong của bà Nguyễn Thị N1 là do chấn thương sọ não.
Lỗi trong vụ án được xác định như sau:
Bị cáo Nguyễn Thanh B điều khiển xe mô tô ba bánh 61L7-0765 không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ nên cho xe đi không đúng làn đường quy định, vi phạm Khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ. Vi phạm này là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn giao thông; sau khi gây tai nạn bị cáo B bỏ trốn, vi phạm Khoản 17 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại và bị cáo đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại các khoản là 120.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường xong, đại diện bị hại không có yêu cầu gì khác nên không xem xét giải quyết.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 100/2018/HS-ST ngày 16/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh B phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
Áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 260, Điểm b, r, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 33, 54 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh B 01 năm 06 tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 28 tháng 11 năm 2018 bị cáo Nguyễn Thanh B kháng cáo bản án sơ thẩm xin được hưởng án treo vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có vườn ruộng, bị cáo là lao động chính, có 02 con còn nhỏ đang đi học, vợ làm công nhân, thu nhập thấp. Phía gia đình bị hại cũng không yêu cầu gì.
Ngày 28/11/2018 ông Lại Văn Ư và anh Lại Văn K là đại diện bị hại kháng cáo bản án sơ thẩm xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo B vì tai nạn xảy ra ngoài ý muốn của bị cáo, bị cáo đã khắc phục hậu quả gây ra. Đại diện bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự ở giai đoạn sơ thẩm nhưng chưa được xem xét.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thanh B và ông Lại Văn Ư, anh Lại Văn K là đại diện bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm: Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đã xem xét về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự thú, đã bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu quả, bị cáo là lao động chính trong gia đình phải nuôi 02 con còn nhỏ, gia đình có công với các mạng và đã xử bị cáo 01 năm 6 tháng tù là dưới mức thấp nhất của khung hình phạt; tại cấp phúc thẩm không phát sinh tình tiết giảm nhẹ mới, đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của ông Ư, anh K; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo B đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, vì vậy có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 8 giờ ngày 16/3/2018, bị cáo Nguyễn Thanh B điều khiển xe mô tô ba bánh biển số 61L7-0765 trên đường X theo hướng từ Phường Y về Phường P, thành phố V để chở hàng thuê. Khi đến đoạn đường thuộc Khóm M, Phường P, bị cáo B điều khiển xe để bánh sau bên phải đi vào làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ. Khi thấy bà Nguyễn Thị N1 đi ở phía trước trên làn đường dành cho người đi bộ cùng chiều với xe của bị cáo. Bị cáo B tiếp tục cho xe chạy về phía trước thì thùng xe bên phải của bị cáo va chạm vào bên trái bà N1, làm bà ngã xuống đường bị thương. Bị cáo B không đưa bà N1 đi cấp cứu mà tiếp tục điều khiển xe bỏ trốn. Bà N1 được đưa đi cấp cứu, đến ngày 21/3/2018 thì bị tử vong. Do đó, bản án sơ thẩm đã quy kết bị cáo B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo B, nhận thấy: Bị cáo không chấp hành quy định của pháp luật về an toàn giao thông, điều khiển xe ba bánh đi không đúng làn đường quy định, không chấp hành hệ thống biển báo đường bộ vi phạm Khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ; bỏ trốn sau khi gây tai nạn nhằm trốn tránh trách nhiệm, vi phạm Khoản 17 Điều 8 Luật giao thông đường bộ; hậu quả làm một người chết. Nguyên nhân gây ra tai nạn lỗi hoàn toàn thuộc bị cáo. Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, hậu quả làm chết một người, gây đau thương tang tóc cho gia đình nạn nhân, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội, nhất là trong tình hình hiện nay, tai nạn giao thông đang có chiều hướng gia tăng. Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đã xem xét về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự thú, đã bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu quả, bị cáo là lao động chính trong gia đình phải nuôi 02 con còn nhỏ, gia đình có công với các mạng và đã xử bị cáo 01 năm 6 tháng tù là dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Với mức hình phạt này là cần thiết nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo là không có căn cứ.
Xét kháng cáo của ông Lại Văn Ư và anh Lại Văn K là đại diện bị hại nhận thấy, như nhận định ở trên cấp sơ thẩm đã xem xét yêu cầu của đại diện bị hại, việc đại diện bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo thuộc trường hợp chưa đủ căn cứ để xem xét theo quy định tại Điều 29 của Bộ luật Hình sự năm 2015, nên không được chấp nhận.
Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của ông Ư, anh K là đại diện bị hại, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm như đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Thanh B phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh B và kháng cáo của ông Lại Văn Ư, anh Lại Văn K; giữ nguyên phần hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm: 100/2018/HS-ST ngày 16/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long;
Áp dụng Điểm c khoản 2 Điều 260, Điểm b, r, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điểm b, đ Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thanh B phải chịu 200.000 đồng.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDCC: 01b; - VKSNDTVL: 02b; - TANDTPV: 02b; - VKSND + CQĐTTPV: 02b; - CQTHADSTPV: 02b; - CQTHAHSTPV: 01b; - TTG + BC: 02b; - PHSCATVL: 01b; - STPTVL: 01b; - UBND, CA xã C: 02b; - Lưu VP, lưu hồ sơ vụ án: 02b; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Tuấn |