vanban.org

Bản án 20/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lê Thị H; chị Lê Thị H được ly hôn với bị đơn anh Võ Kim P .

Về con chung: Giao con chung Võ Thị Thanh T (sinh ngày 17 tháng 9 năm 2011) cho chị Lê Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Lê Thị H không yêu cầu anh Võ Kim P cấp dưỡng nuôi con chung. Giao 02 (hai) con chung là Võ Ngọc H … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Võ Kim P"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lê Thị H; chị Lê Thị H được ly hôn với bị đơn anh Võ Kim P .
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VẠN NINH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2019/HNGĐ-ST
Ngày 16 tháng 7 năm 2019
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tò a:

Ông Vi Nhật Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Loan

Bà Lương Thị Hải.

- Thư ký phiên tòa : Bà Chu Thị Thủy Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Nam Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số : 54/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2019 về việc: “Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2019/QĐXX-ST ngày 14/6/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2019/QĐST-HNGĐ ngày 04/7/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thi ̣ H - Sinh năm: 1982; Trú tại: Thôn Q, xã L, huyê ̣n V, tỉnh Khánh Hòa; (Có mặt).

- Bị đơn: Anh Võ Kim P - Sinh năm: 1982; Trú tại: Thôn Q, xã L, huyê ̣n V, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/2/2019 (nộp ngày 01/3/2019), bản tự khai, các biên bản không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Võ Kim P tự nguyện yêu thương nhau, về sống chung với nhau từ năm 2002, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số 52, quyển số I/2002 ngày 21/6/2002.

Quá trình sống chung, thời gian đầu giữa vợ chồng chị có hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do cả hai bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Từ cuối năm 2018 đến nay, vợ chồng không còn sống chung với nhau, không ai quan tâm, chăm sóc cho ai. Đến nay, chị xác định không còn tình cảm với anh P, không muốn hàn gắn đoàn tụ với anh P nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P.

Về con chung: Giữa chị và anh P có 03 (ba) con chung là Võ Ngọc H (sinh ngày 27 tháng 02 năm 2003), Võ Ngọc T (sinh ngày 28 tháng 7 năm 2005), Võ Thị Thanh T (sinh ngày 17 tháng 9 năm 2011), hiện nay chị đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Võ Thị Thanh T, anh P đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 (hai) con chung Võ Ngọc H, Võ Ngọc T. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 03 (ba) con chung đến trưởng thành. Chị H không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị H đề nghị để chị và anh P tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa, chị Lê Thị H giữ nguyên yêu cầu ly hôn, tài sản chung và nợ chung.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H thay đổi yêu cầu, chị H yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Võ Thị Thanh T (sinh ngày 17 tháng 9 năm 2011) cho đến khi trưởng thành; chị H không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung.

Giao 02 (hai) con chung là Võ Ngọc H (sinh ngày 27 tháng 02 năm 2003), Võ Ngọc T (sinh ngày 28 tháng 7 năm 2005) cho anh Võ Kim P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành. Chị H không cấp dưỡng nuôi con chung.

Đối với anh Võ Kim P trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh P theo quy định của pháp luật, cụ thể như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; các giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa để anh P thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự cũng như tham gia phiên tòa nhưng anh P đều vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa phát biểu:

1. Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Võ Kim P. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp giữa chị H với anh P là “Tranh chấp về ly hôn”. Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa là Tòa án nơi mà anh P cư trú theo quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015.

Tại phiên tòa anh Võ Kim P dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vắng mặt lần thứ hai, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn anh Võ Kim P.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Võ Kim P tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Khánh Hòa và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 52, quyển số I/2002 ngày 21/6/2002. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh P được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Võ Kim Phường. Về nguyên nhân gây ra mâu thuẫn giữa chị H và anh Phường, theo chị H xác định: Do cả hai bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Mặc dù chị cũng đã nhiều lần cố gắng hàn gắn mâu thuẫn giữa vợ chồng nhưng không thành công. Từ cuối năm 2018 cho đến nay, chị H và anh P đã sống ly thân, hiện tại giữa cả hai đã không còn quan hệ với nhau về mọi mặt, từ chuyện tình cảm đến kinh tế.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Võ Kim P cũng đã được Toà án nhân dân huyện Vạn Ninh triệu tập hợp lệ nhiều lần để giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị Lê Thị H nhưng anh P đều không có mặt để làm việc. Điều đó chứng tỏ anh P đã không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân giữa anh và chị H nữa.

Theo biên bản xác minh ngày 22/5/2019, Ủy ban nhân dân xã Vạn Lương, huyện Vạn Ninh cũng xác nhận việc chị Lê Thị H và anh Võ Kim P đã không còn sống chung với nhau.

Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Lê Thị H và anh Võ Kim P đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị H đối với anh Võ Kim P.

Về con chung: Chị Lê Thị H và anh Võ Kim P có 03 (ba) con chung là Võ Ngọc H (sinh ngày 27 tháng 02 năm 2003), Võ Ngọc T (sinh ngày 28 tháng 7 năm 2005), Võ Thị Thanh Tâm (sinh ngày 17 tháng 9 năm 2011). Chị H trình bày hiện tại chị đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Võ Thị Thanh T và yêu cầu được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Tâm đến trưởng thành (đủ 18 tuổi); 02 (hai) con chung là Võ Ngọc H, Võ Ngọc T hiện đang sinh sống cùng anh P nên chị đề nghị giao cho anh P tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng .

Tại các bản tự khai ngày 28/5/2019 của các con chung; cháu Võ Ngọc H, Võ Ngọc T có nguyện vọng được sinh sống với ba là anh Võ Kim P, cháu Võ Thị Thanh T có nguyện vọng được sinh sống với mẹ. Mặt khác, sau khi vợ chồng không còn sống chung, hai cháu Võ Ngọc H, Võ Ngọc T đều sinh sống cùng với anh Phường, cháu Võ Thị Thanh T sống cùng với chị H, cuộc sống của các con chung đã đi vào ổn định. Xét thấy để tạo điều kiện phát triển cho con chung cần tiếp tục giao con chung Võ Thị Thanh T cho chị Lê Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị H không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xét; Giao con chung Võ Ngọc H, Võ Ngọc T cho anh Võ Kim P được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh P không có mặt nên không có ý kiến về cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung: Chị H đề nghị để chị và anh P tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nợ chung: Chị H xác định vợ chồng không có nợ chung.

Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 264; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu , nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lê Thị H; chị Lê Thị H được ly hôn với bị đơn anh Võ Kim P .

2. Về con chung: Giao con chung Võ Thị Thanh T (sinh ngày 17 tháng 9 năm 2011) cho chị Lê Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Lê Thị H không yêu cầu anh Võ Kim P cấp dưỡng nuôi con chung.

Giao 02 (hai) con chung là Võ Ngọc H (sinh ngày 27 tháng 02 năm 2003), Võ Ngọc T (sinh ngày 28 tháng 7 năm 2005) cho anh Võ Kim P được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Lê Thị H không cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Võ Kim P, chị Lê Thị H được quyền thăm nom con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng, không ai được cản trở.

Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết chị H, anh P có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2018/0006675 ngày 09 tháng 4 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh; chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ