vanban.org

Bản án 20/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Th;

Về hôn nhân: Cho chị Hồ Thị Th và anh Nguyễn Cự X được ly hôn. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Quốc V, sinh ngày 04/10/2014 cho chị Hồ Thị Th được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành; giao con chung Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 01/02/2012 cho a… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Th;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2019/HNGĐ-ST.
Ngày: 16 - 8 - 2019
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Huy Mạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Văn Trung.

Bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà: Ông Trần Minh Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 35/2019/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2019/QĐXX-ST ngày 08/7/2019, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Th, sinh năm 1992. Nơi ĐKHKTT: Xóm 9, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Cự X, sinh năm 1978. Nơi ĐKHKTT tại: Xóm 9, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, chị Hồ Thị Th trình bày thì:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Cự X kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 25/5/2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được hơn 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình, suy nghĩ, lối sống không hợp nhau, anh X không chăm lo đến vợ con, gia đình; hiện nay vợ chồng ly thân, không hỏi han, quan tâm lẫn nhau. Nay chị không còn tình cảm nên yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Cự X.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Cự X có 02 con chung là Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 01/02/2012 và Nguyễn Quốc V, sinh ngày 04/10/2014. Ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chăm sóc Nguyễn Quốc V và anh Nguyễn Cự X sẽ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng Nguyễn Văn Đ cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Hai bên không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Cự X trình bày:

Về hôn nhân: Anh thừa nhận về điều kiện, thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn, mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn đúng như chị Th đã trình bày. Tuy nhiên, anh vẫn đang còn tình cảm với chị Th nên mong muốn vợ chồng đoàn tụ để xây dựng hạnh phúc gia đình, nuôi dạy con cái.

Về con chung: Anh và chị Hồ Thị Th có 02 người con chung đúng như chị Th đã trình bày. Nếu vợ chồng ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chăm sóc Nguyễn Văn Đ và chị Hồ Thị Th sẽ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng Nguyễn Quốc V cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Hai bên không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 19, 51, 56, 81. 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xử: Cho chị Hồ Thị Th được ly hôn với anh Nguyễn Cự X; về con chung: Giao con chung Nguyễn Quốc V, sinh ngày 04/10/2014 cho chị Hồ Thị Th được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi đủ tuổi trưởng thành; giao con chung Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 01/02/2012 cho anh Nguyễn Cự X được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi đủ tuổi trưởng thành. Hai bên không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.

Về án phí: Chị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Hồ Thị Th yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với anh Nguyễn Cự X có hộ khẩu thường trú tại xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An. Đây là Tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa; chị Hồ Thị Th xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Cự X vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo đúng quy định tại Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

. Về hôn nhân: Chị Hồ Thị Th và anh Nguyễn Cự X kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 25/5/2011 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do tính tính và quan điểm sống không hợp nhau, vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau, mặc dù đã được gia đình, bạn bè hai bên gia đình hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện và thực tế hiện nay vợ chồng đã sống ly thân. Chị Th khẳng định tình cảm vợ chồng không còn và nhất quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn. Xét thấy, việc vợ chồng sống ly thân không quan tâm, chăm sóc nhau là vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình, làm cho hôn nhân đã thực sự lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Hồ Thị Th được ly hôn với anh Nguyễn Cự X.

. Về con chung: Quá trình chung sống, Chị Th và anh X có 02 người con chung là Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 01/02/2012 và Nguyễn Quốc V, sinh ngày 04/10/2014. Từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay thì cháu V do chị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; cháu Đ do anh X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn, chị Th và anh X thống nhất thỏa thuận giao cháu Việt cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Đoàn cho anh X trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên là nghĩa vụ và quyền của cha mẹ; xét sự thỏa thuận của chị Th, anh X là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, đúng với quy định của pháp luật, vì sự phát triển mọi mặt của con, phù hợp với nguyện vọng của con. Vì vậy, cần giao con chung Nguyễn Quốc V cho chị Hồ Thị Th được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi đủ tuổi trưởng thành; giao con chung Nguyễn Văn Đ cho anh Nguyễn Cự X được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi đủ tuổi trưởng thành. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, do chị Th và anh X thỏa thuận hai bên không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho nhau nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Th và anh X.

.Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

.Về án phí: Nguyên đơn chị Hồ Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

. Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Th;

1. Về hôn nhân: Cho chị Hồ Thị Th và anh Nguyễn Cự X được ly hôn.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Quốc V, sinh ngày 04/10/2014 cho chị Hồ Thị Th được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành; giao con chung Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 01/02/2012 cho anh Nguyễn Cự X được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Th và anh X do các bên chưa yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, khi có yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Chị Hồ Thị Th phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị Th đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0002120 ngày 20/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Nghệ An. Chị Th đã nộp đầy đủ tiền án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Hồ Thị Th và anh Nguyễn Cự X có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ