vanban.org

Bản án 20/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí; Điều

147 Bộ luật tố tụng dân sự. [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Hồ Thị Thanh L được L

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí; Điều
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DK
TỈNH KHÁNH HÒA
------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2019/HNGĐ-ST
Ngày 16 tháng 7 năm 2019
V/v: “L hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DK - TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Vinh

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành

Ông Lê Quốc Tân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thái Bảo Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện DK - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện DK tham gia phiên tòa: Ông Hồ

Hữu Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện DK xét xử sơ

thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 25/2019/TLST-HNGĐ ngày

28/02/2019 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

17/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/5/2019; Quyết định hoãn phiên tòa số

09/2019/QĐST-HNGĐ ngày 25/6/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Thanh L - sinh năm 1993

Địa chỉ: Tổ dân phố T3, thị trấn DK, huyện DK.

Chị L có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T - sinh năm 1990

Địa chỉ: Tổ dân phố T3, thị trấn DK, huyện DK.

Anh T vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 18/02/2019, bản tự khai ngày 06/3/2019 và quá

trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hồ Thị Thanh L trình bày: chị và anh

Nguyễn Văn T tự nguyện yêu thương nhau, chung sống với nhau và có đăng ký kết

hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân thị trấn DK vào năm 2013. Trong quá trình

chung sống, giữa chị và anh T thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T

sử dụng ma túy, không lo làm ăn, thường xuyên có những lời nói, hành động đánh

đập chị, không có trách nhiệm với gia đình, dẫn đến tình cảm giữa vợ chồng ngày

càng áp lực, cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Chị đã nhiều lần khuyên và tạo

cơ hội nhưng anh T vẫn không có sự thay đổi bản tính của mình. Chị xác định

không còn tình cảm yêu thương, quan tâm chăm sóc đến anh T nên chị yêu cầu

Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Nguyễn Thị Hoài A - sinh

ngày 12/3/2014. Chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu A và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: chị xác định giữa chị và anh T không có tài

sản chung và nợ chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mời anh Nguyễn Văn

T đến Tòa án làm việc, nhưng anh T vẫn cố tình vắng mặt. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản, giấy tờ tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hồ Thị Thanh L vẫn giữ nguyên yêu cầu xin

được ly hôn với anh Nguyễn Văn T; được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung và nợ chung: không có. Bị đơn anh Nguyễn Văn T vắng mặt lần thứ hai, không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện DK - Khánh Hòa phát biểu ý kiến:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ trình tự thủ tục tố tụng. Bị đơn anh Nguyễn Văn T vi phạm khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị Thanh L xin ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Giao 01 con chung Nguyễn Thị Hoài A - sinh ngày 12/3/2014, cho chị Hồ Thị Thanh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Chị L xác định không có nên không xem xét. Về án phí: Chị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ

đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn T.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Thanh L và anh Nguyễn Văn T tự

nguyện yêu thương nhau về sống chung và có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân thị trấn DK, đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 203/2013 ngày 20/12/2013 theo quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa chị L và anh T đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, theo chị L nguyên nhân là do anh T sử dụng ma túy, không lo làm ăn, thường xuyên có những lời nói, hành động đánh đập chị, không có trách nhiệm với gia đình, dẫn đến tình cảm giữa vợ chồng ngày càng phai nhạt, cuộc sống gia đình không hạnh phúc, chị L xác định đã không còn quan hệ vợ chồng với anh T từ tháng 12/2018 cho đến nay. Do đó, tình cảm chị L dành cho anh T không còn. Anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh T không đến Tòa án làm việc. Điều này chứng tỏ, anh T không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này nên cho thấy hôn nhân giữa chị L và anh T đã có mâu thuẫn dẫn đến gia đình không có hạnh phúc, làm cho mâu thuẫn gia đình trở nên trầm trọng, không thể khắc phục, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy,

cần chấp nhận yêu cầu của chị Hồ Thị Thanh L được ly hôn với anh Nguyễn Văn

T.

[3]. Về con chung: chị L và anh T có 01 con chung là Nguyễn Thị Hoài A -

sinh ngày 12/3/2014. Hiện tại, chị L đang trực tiếp chăm nom, nuôi dưỡng và có

yêu cầu được tiếp tục chăm sóc con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi

con chung. Đây là yêu cầu chính đáng của chị L phù hợp với pháp luật nên cần để

chị L tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng con chung.

[4]. Về tài sản chung: chị L xác định giữa chị và anh T không có tài sản

chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về nợ chung: chị L xác định giữa chị và anh T không có nợ chung nên

Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về án phí: Chị L phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy

định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí; Điều

147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tuyên xử:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Hồ Thị Thanh L được L

hôn với anh Nguyễn Văn T.

[2]. Về con chung: Giao 01 con chung Nguyễn Thị Hoài Anh - sinh ngày

12/3/2014 cho chị Hồ Thị Thanh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,

giáo dục con chung. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Nguyễn Văn T có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được

cản trở.

Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, chị L, anh T có

quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con

chung.

[3]. Về tài sản chung: không có.

[4]. Về nợ chung: không có.

[5]. Về án phí: chị Hồ Thị Thanh L nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)

án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí

hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), mà chị L đã

nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0002514 ngày 28/02/2019 tại Chi cục thi

hành án dân sự huyện DK - Khánh Hòa; chị L đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia

đình sơ thẩm.

Quy định chung: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[6]. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ