vanban.org

Bản án 20/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp d ng các Điều 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nh n và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường v Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án.

Về hôn nh n: Anh Kim tiến D được ly hôn chị Nguyễn Thị S. Về nuôi con chung: Giao cháu Kim Tiến Đ sinh ngày 19/8/2015; Kim Tiến T, sinh ngày 16/5/2018 cho anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo d c; chị S không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh D nhưng có quyền, nghĩa v thăm nom con mà kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Kim Tiến Dũng xin ly hôn chị Nguyễn Thị S"
  • Tòa quyết gì? Áp d ng các Điều 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nh n và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường v Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nh n và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH XUYÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2019/HNGĐ – ST
Ngày 08 - 10 - 2019
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quang Thái.

Bà Trương Thị Hương Nghĩa.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Tám– Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Vũ Lan Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 10 năm 2019 t i tr s Toà án nh n d n huyện Bình Xuyên, t nh Vĩnh h c xét x sơ thẩm công khai v án th lý số: 118/2019/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 5 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo quyết định đưa v án ra xét x số: 43/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Kim Tiến D, sinh năm 1989; địa ch : Thôn C, xã H, huyện B, t nh Vĩnh h c, “có mặt”.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1993; địa ch : Thôn L, xã P, huyện B, t nh Vĩnh h c, “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn kh i kiện đề ngày 20 tháng 5 năm 2019 và những lời khai tiếp theo trong quá trình làm việc cũng như t i phiên tòa, nguyên đơn anh Kim Tiến D trình bày:

Về hôn nh n: Anh và chị Nguyễn Thị S kết hôn ngày 23 tháng 01 năm 2013, đăng ký kết hôn t i Ủy ban nh n d n xã H, huyện B, t nh Vĩnh h c trên cơ s tự nguyện. Sau đó, chị S về làm d u và chung sống cùng gia đình anh thôn C, xã H, huyện B, t nh Vĩnh h c. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng anh chị vẫn hòa thuận. Đến năm 2018 thì anh, chị phát sinh m u thuẫn, vợ chồng cãi nhau thường xuyên. Nguyên nh n là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, sau khi m u thuẫn xảy ra, chị S đã về nhà bố bố mẹ chị thôn L, xã P, huyện B, t nh Vĩnh h c từ tháng 9 năm 2019 và vợ vợ chồng sống ly th n từ đó đến nay, không quan t m, chăm sóc đến nhau. Nay anh xác định tình cảm với chị S không còn, hôn nh n không có h nh ph c, anh tha thiết xin được ly hôn chị S.

Về nuôi con chung: Vợ chồng anh có hai con chung là Kim Tiến Đ, sinh ngày 19 tháng 8 năm 2015 và Kim Tiến T, sinh ngày 16 tháng 5 năm 2018; hiện nay cả hai cháu đang sống cùng anh. Ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo d c cả hai cháu; anh không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Về tài sản: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị S: Quá trình giải quyết v án Tòa án đã g i, tống đ t Thông báo th lý v án, bản sao đơn kh i kiện và các tài liệu giấy tờ kèm theo đồng thời triệu tập chị S rất nhiều lần; thậm chí để v án được giải quyết một cách đầy đủ, toàn diện, khách quan và đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự Tòa án đã g i công văn nêu rõ nội dung v án để chị S đến Tòa trực tiếp trình bày ý kiến của mình về từng vấn đề, nội dung c thể theo đơn kh i kiện của nguyên đơn là anh D. Chị S đã được biết về việc anh D có đơn kh i kiện xin ly hôn và đề nghị giải quyết con chung là cháu Kim Tiến Đ và Kim Tiến T nhưng chị S không đến Tòa án làm việc và cũng không g i văn bản thể hiện ý kiến của mình đến Tòa án.

Ngày 26 tháng 8 năm 2019, Tòa án tiến hành xác minh t i Ủy ban nh n dân xã H, huyện B cho biết: Anh Kim Tiến D và chị Nguyễn Thị S có đăng ký kết hôn t i Ủy ban nh n d n xã H, huyện B, t nh Vĩnh h c vào ngày 23 tháng 01 năm 2013. Sau khi kết hôn vợ chồng anh D, chị S chung sống cùng gia đình nhà anh D thôn C, xã H, huyện B, t nh Vĩnh h c. Quá trình chung sống thời gian đầu thấy anh chị hòa thuận, khoảng năm 2018 vợ chồng anh chị phát sinh m u thuẫn, thường xuyên to tiếng cãi nhau; đến khoảng cuối năm 2018 chị S không còn chung sống và nhà anh D nữa, địa phương nghe nói chị S về nhà bố mẹ đẻ chị thôn L, xã P, huyện B, t nh Vĩnh h c. Còn nguyên nh n vợ chồng anh chị m u thuẫn là do đ u địa phương cũng không nắm rõ.

Về nuôi con chung: Anh D và chị S có 02 con chung là cháu Kim Tiến Đ sinh ngày 19/8/2015; Kim Tiến T, sinh ngày 16/5/2018, cả hai cháu được đăng ký khai sinh t i Ủy ban nhân dân xã H, trong giấy khai sinh của 2 cháu được thể hiện người mẹ là chị Nguyễn Thị S và người cha là anh Kim Tiến D, hiện t i cả hai cháu đang cùng anh D.

Đối với công việc của anh D trước năm 2018, công tác t i Trường Cao đẳng cơ khí xã Tam Hợp nhưng nay anh D không còn làm Trường nữa mà hiện nay anh D đã ngh và làm tự do, m c a hàng bán điện tho i và các vật d ng khác. Thu nhập của người kinh doanh mặt hàng này địa phương được khoảng từ 8 triệu đến 10 triệu đồng/ tháng.

Ngày 27 tháng 8 năm 2019, Tòa án tiến hành xác minh t i Ủy ban nh n dân xã P, huyện B cho biết: Chị Nguyễn Thị S là con gái ông Nguyễn Hoàng L và bà Trần Thị L. Năm 2013, chị S lấy chồng là anh D xã H, huyện B; chị S và anh D không đăng ký kết hôn t i xã P; kể từ khi chị S đi lấy chồng đã làm thủ t c cắt khẩu t i xã đến nhập khẩu t i xã H và th nh thoảng chị S cùng chồng, con về thăm gia đình; đến khoảng đầu năm 2019 thấy chị S có vể nhà ông L, bà L một thời gian khoảng hơn hai tháng sau đó hiện nay chị S đi làm ăn th nh thoảng mới thấy về gia đình. Nguyên nh n lý do vì sao chị S về nhà ông L địa phương không rõ. Về con chung của chị S và anh D địa phương không nắm rõ vì anh chị không làm thủ t c khai sinh cho các cháu t i Ủy ban nhân dân xã P.

Qua lời khai của ông Nguyễn Hoàng L, là bố để chị S và qua việc giao, tống đ t các văn bản tố t ng của Tòa án cho chị S, được biết hiện t i chị S đang đi làm ăn th nh thoảng mới về nhà nên chị S không trực tiếp nhận văn bản và người nhà chị S cũng từ chối không nhận thay nên Tòa án đã làm thủ t c niêm yết t i Ủy ban nh n d n xã h Xu n theo quy định của pháp luật.

hát biểu của Kiểm sát viên t i phiên tòa:

Về việc tu n theo pháp luật tố t ng d n sự của người tiến hành tố t ng và của người tham gia tố t ng: Trong quá trình giải quyết v án, Thẩm phán, Hội đồng xét x , Thư ký phiên tòa đã tiến hành th lý, thu thập chứng cứ và xét x v án theo đ ng thẩm quyền, đ ng trình tự thủ t c tố t ng mà pháp luật quy định; người tham gia tố t ng anh D đã chấp hành đ ng các quy định của pháp luật tố t ng d n sự, chị S được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai vẫn vắng mặt.

Về giải quyết v án: Đề nghị Hội đồng xét x cho anh Kim Tiến D được ly hôn chị Nguyễn Thị S; giao con chung là Kim Tiến Đ, sinh ngày 19 tháng 8 năm 2015 và Kim Tiến T, sinh ngày 16 tháng 5 năm 2018 cho anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị S không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh D vì anh D không yêu cầu; về chia tài sản các đương sự không yêu cầu nên không xem xét. Anh D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ v án được thẩm tra t i phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét x nhận định:

Về tố t ng: Anh Kim Tiến D kh i kiện xin ly hôn chị Nguyễn Thị S và đề nghị được nuôi dưỡng con chung, do đó đ y là v án ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn chị Nguyễn Thị S hiện đang cư tr t i: Thôn L, xã P, huyện B, t nh Vĩnh h c, theo quy định t i các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố t ng d n sự 2015, v án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nh n d n huyện Bình Xuyên. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng cố tình vắng mặt t i phiên tòa, vì vậy Toà án vẫn tiến hành xét x vắng mặt bị đơn theo quy định t i điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố t ng d n sự.

Quá trình tiến hành tố t ng mặc dù bị đơn là chị S đã biết việc Tòa án th lý v án tranh chấp hôn nh n và gia đình do nguyên đơn là anh D kh i kiện nhưng không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, cố tình vắng mặt nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai của bị đơn cũng như tiến hành tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được. Việc chị S cố tình vắng mặt đồng nghĩa với việc đã từ bỏ quyền và nghĩa v của đương sự trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định t i Điều 70 của Bộ luật Tố t ng d n sự.

Về nội dung: Căn cứ vào biên bản xác minh ngày 26 tháng 8 năm 2019 t i Ủy ban nh n d n xã Hương Sơn, huyện Bình Xuyên và lời khai của anh Kim Tiến anh D, vì vậy quan hệ hôn nh n giữa anh D và chị S là hợp pháp. Quá trình chung sống do bất đồng quan điểm nên vợ chồng phát sinh m u thuẫn từ năm 2018. Trong những lần làm việc t i Toà án và t i phiên toà anh D đều khẳng định tình cảm vợ chồng với chị S không còn, việc đoàn t là không thể nếu Toà án không cho anh ly hôn với chị S anh cũng không thể về đoàn t với chị S được. Quá trình giải quyết v án, do không giao được văn bản tố t ng cho chị S nên Tòa án đã làm thủ t c niêm yết t i Ủy ban nh n d n xã h Xu n và qua làm việc với bố đẻ chị S thì được biết chị S đã biết anh D kh i kiện xin ly hôn nhưng chị S vẫn không đến Tòa án làm việc hay g i văn bản nêu rõ ý kiến, quan điểm của mình, như vậy có thể hiểu rằng chị S đã đồng ý với toàn bộ nội dung mà nguyên đơn kh i kiện. Xét, cuộc sống chung giữa anh D và chị S không thể tiếp t c vì anh, chị không còn yêu thương, chăm sóc nhau, không cùng nhau x y dựng h nh ph c gia đình theo qui định t i Điều 18 Luật Hôn nh n và gia đình. Điều đó chứng tỏ tình tr ng hôn nh n giữa anh D và chị S là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, m c đích hôn nh n không đ t được. Căn cứ điều 56 Luật Hôn nh n và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh D và ý kiến của Viện kiểm sát là phù hợp.

Về nuôi con chung: Anh D và chị S có 02 con chung là cháu Kim Tiến Đ sinh ngày 19/8/2015; Kim Tiến T, sinh ngày 16/5/2018. Kể từ khi vợ chồng ly th n đến nay, cháu Đ và cháu T vẫn sống cùng anh D. Quá trình tiến hành tố t ng và t i phiên tòa anh D tha thiết xin được nuôi con và chứng minh nuôi con tốt về mọi mặt; do vậy cần giao cháu Đ và cháu T cho anh D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo d c con sau ly hôn; chị S không phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh D vì anh D không yêu cầu nhưng có quyền và nghĩa v thăm nom con mà không ai được cản tr . Trong thời gian anh D chăm sóc nuôi dưỡng cả hai cháu mà không đảm bảo được cuộc sống cho cháu thì chị S có quyền làm đơn đề nghị thay đổi về người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản: Anh D không đề nghị Tòa án giải quyết, chị S vắng mặt và cũng không đề nghị do đó Tòa án không xét. Sau khi ly hôn, nếu các đương sự có yêu cầu về tài sản thì Tòa án giải quyết bằng v án khác theo qui định của pháp luật.

Về án phí sơ thẩm: Anh D phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp d ng các Điều 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nh n và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường v Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án.

Về hôn nh n: Anh Kim tiến D được ly hôn chị Nguyễn Thị S.

Về nuôi con chung: Giao cháu Kim Tiến Đ sinh ngày 19/8/2015; Kim Tiến T, sinh ngày 16/5/2018 cho anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo d c; chị S không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh D nhưng có quyền, nghĩa v thăm nom con mà không ai được cản tr , g y khó khăn.

Về án phí: Anh D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền t m ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2017/0003433 ngày 28 tháng 5 năm 2019 của Chi c c Thi hành án d n sự huyện Bình Xuyên; anh D đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt cũng có quyền làm đơn kháng cáo trong h n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày tống đ t hợp lệ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ