vanban.org

Bản án 20/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 - Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Ngô Thị Kiều O và anh Võ Văn U.

2 - Về quan hệ nuôi con chung: Giao con chung Võ Trí H, sinh ngày 23/9/2004 cho anh U trực tiếp nuôi dưỡng, chị O không cấp dưỡng nuôi con cùng anh U sau khi vợ chồng ly hôn. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị O xin ly hôn anh U, về người nuôi con"
  • Tòa quyết gì? 1 - Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Ngô Thị Kiều O và anh Võ Văn U.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN MINH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 25/6/2019
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Linh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Ngọc Thanh

2. Bà Đoàn Thị Huệ

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ Linh, Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2019 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2019/TLST-HNGĐ ngày 11/02/2019 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Kiều O, sinh năm 1984 (Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Võ Văn U (Vỏ Văn U), sinh năm 1979 (Vắng mặt, nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: ấp A, xã H, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/10/2018, biên bản lấy lời khai ngày 04/4/2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Ngô Thị Kiều O trình bày:

Chị và anh Võ Văn U chung sống với nhau năm 1999, đến năm 2002 mới đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã H cấp giấy chứng nhận kết hôn. Cuộc sống vợ chồng thật sự hạnh phúc được khoảng hơn 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do công việc của chị thời gian không ổn định nên anh U thường ghen tuông vô cớ dẫn đến vợ chồng thường hay cãi nhau và làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể khắc phục được nên đến cuối năm 2018 vợ chồng ly thân nhau đến nay và mỗi người hiện đã có cuộc sống riêng, không còn liên hệ qua lại với nhau.

Về con: Vợ chồng có 02 đứa con chung tên Võ Chí T, sinh ngày 17/12/2000 và Võ Trí H, sinh ngày 23/9/2004, hiện Võ Chí T đã trưởng thành và tự lao động, sinh sống được.

Về tài sản và về nợ: Vợ chồng không tài sản chung, không nợ chung tài sản gì đối với ai khác cũng không ai nợ vợ chồng.

Nay yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Xin ly hôn với anh Võ Văn U;

- Về quan hệ nuôi con chung: Hiện Võ Chí T đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn đối với Võ Trí H tự nguyện giao cho anh U trực tiếp nuôi, chị không cấp dưỡng nuôi con cùng anh U sau khi vợ chồng ly hôn;

- Về quan hệ tài sản chung và về quan hệ nợ chung: Vợ chồng không tài sản chung, không nợ chung tài sản gì đối với ai khác cũng không ai nợ vợ chồng, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn chị Ngô Thị Kiều O vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày và yêu cầu như trên.

- Bị đơn anh Võ Văn U vắng mặt lần thứ nhất, nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Đại diện viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng nguyên đơn chị Ngô Thị Kiều O trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; đối với người tham gia tố tụng bị đơn anh Võ Văn U trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là chưa đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, cụ thể như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải;

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xem xét những vấn đề cụ thể như sau: Về hôn nhân, cho chị Ngô Thị Kiều O ly hôn anh Võ Văn U; về nuôi con chung, giao Võ Trí H, sinh ngày 23/9/2004 là con chung của hai người cho anh U trực tiếp nuôi dưỡng, chị O không cấp dưỡng nuôi con cùng anh U, còn Võ Chí T, sinh ngày 17/12/2000 đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được và nguyên đơn, bị đơn không tranh chấp, yêu cầu gì nên không xem xét; về tài sản chung và về nợ chung, không có tranh chấp nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo cho bị đơn anh Võ Văn U biết và quy định thời gian để bị đơn có ý kiến về việc khởi kiện “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của nguyên đơn chị Ngô Thị Kiều O. Nhưng bị đơn anh U không có ý kiến gì và cũng không cung cấp chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Do đó, Tòa án vẫn tiến hành việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Sau đó, Tòa án tiến hành Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn anh U, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà bị đơn anh U vẫn cố tình vắng mặt không lý do. Như vậy, được xác định đây là vụ án thuộc trường hợp không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Bị đơn,........đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt”.

Nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung, tại phiên tòa, vắng mặt bị đơn anh U (đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử), nhưng anh U có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đồng thời tại phiên tòa, nguyên đơn chị Ngô Thị Kiều O không yêu cầu hoãn phiên tòa. Vì vậy, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh Võ Văn U theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

- Về hôn nhân: Chị Ngô Thị Kiều O và anh Võ Văn U khi tổ chức hôn nhân, anh chị tự nguyện lấy nhau làm vợ chồng, đủ tuổi, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã Đông Hòa cấp giấy chứng nhận ký kết hôn vào ngày 01/10/2002. Quan hệ hôn nhân giữa chị O và anh U là hôn nhân hợp pháp phù hợp theo qui định tại các điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Quá trình chung sống hai bên đã phát sinh nhiều mâu thuẫn và thực tế đã ly thân nhau một thời gian dài, hiện mỗi người đã có cuộc sống riêng không ai quan tâm đến ai. Tại phiên tòa hôm nay, chị O vẫn cương quyết xin ly hôn với anh U và bản thân anh U cũng đã có ý kiến bằng văn bản đồng ý ly hôn với chị O. Tuy chị O và ý chí của anh U đã thống nhất thuận tình ly hôn với nhau nhưng HĐXX không thể ghi nhận sự thỏa thuận này của hai người, bởi từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa hôm nay anh U không một lần đến Tòa án để tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như phiên tòa ngày hôm nay.

Qua kết quả xác minh, thu thập chứng cứ thì tình trạng mâu thuẫn vợ chồng của chị O và anh U là có thật, cụ thể mâu thuẫn vợ chồng xảy ra trầm trọng nhất là năm 2016 từ việc làm ăn kinh tế của gia đình, việc này cũng đã được anh U thừa nhận (BU lục số 36, 37).

Từ đó cho thấy mối quan hệ hôn nhân giữa chị O và anh U không khả năng đoàn tụ, tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị O và anh U theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về nuôi con chung: Theo chị O và ý kiến bằng văn bản của anh U thể hiện, vợ chồng có 02 con chung tên Võ Chí T, sinh ngày 17/12/2000 và Võ Trí H, sinh ngày 23/9/2004, sau khi vợ chồng ly hôn giao con Võ Trí H, sinh ngày 23/9/2004 cho anh U trực tiếp nuôi dưỡng, chị O không cấp dưỡng nuôi con cùng anh U và cháu Võ Trí H cũng đã có văn bản thể hiện ý kiến sau khi cha mẹ (chị O, anh U) ly hôn có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với anh U; đối với Võ Chí T, sinh ngày 17/12/2000 đã trưởng thành, tự lao động, sinh sống được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đến tại phiên tòa hôm nay, chị O vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày, còn anh U tuy vắng mặt nhưng cũng không thể hiện ý kiến gì thay đổi lời trình bày của anh. Vì vậy, cần giao cháu Võ Trí H, sinh ngày 23/9/2004 cho anh U trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của cháu Võ Trí H và theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; còn cháu Võ Chí T, sinh ngày 17/12/2000 các đương sự xác định đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được không tranh chấp, yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không thể hiện ý kiến yêu cầu gì, nên HĐXX không xem xét.

- Về quan hệ tài sản chung và quan hệ nợ chung: Giữa nguyên đơn chị O và bị đơn anh U cùng thống nhất xác định, vợ chồng không tài sản chung, không nợ chung tài sản gì đối với ai khác cũng không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn chị O có đơn yêu cầu xin ly hôn nên chị O phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,

Áp dụng Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1 - Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Ngô Thị Kiều O và anh Võ Văn U.

2 - Về quan hệ nuôi con chung: Giao con chung Võ Trí H, sinh ngày 23/9/2004 cho anh U trực tiếp nuôi dưỡng, chị O không cấp dưỡng nuôi con cùng anh U sau khi vợ chồng ly hôn.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3 - Về quan hệ tài sản chung và quan hệ nợ chung: Các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

4 - Về án phí: Chị Ngô Thị Kiều O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0006104 ngày 29 tháng 01 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Minh; chị O đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 25/6/2019); đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ