vanban.org

Bản án 20/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 20/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Minh T 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 20/11/2017). Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) phong bì thư hoàn lại sau giám định số: 761/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh. Trả lại cho bị cáo Phạm Minh T số tiền 2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ UÔNG BÍ
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2018/HSST
Ngày 20 - 3 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Hoan và bà Phạm Thị Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Thanh Tùng, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Hải, Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2018/TLST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2018/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:

Phạm Minh T, sinh ngày 15 tháng 3 năm 1960 tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ 29 khu Đông Tiến 2, phường Cẩm Đông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nguyên làm nghề: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ (đã chết) và bà Trần Thị T1; có vợ là Phạm Thị T2; có 03 con, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1994; tiền án: không, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 04/5/2001, bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 07 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị phạt bổ sung số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng). Ngày 31/8/2004, bị cáo được đặc xá tha tù trước thời hạn. Ngày 17/9/2015, bị cáo được đình chỉ thi hành phần dân sự của bản án; bị tạm giữ ngày 20/11/2017; tạm giam ngày 26/11/2017; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

Những người chứng kiến:

1. Ông Bùi Văn N, sinh năm: 1960; địa chỉ: tổ 2, khu Hiệp Thành, phường Phương Nam, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

2. Ông Cao Việt H, sinh năm: 1962; địa chỉ: tổ 1, khu Hiệp Thành, phường Phương Nam, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 20 phút, ngày 20/11/2017, tại khu vực Tổ 1, khu Bạch Đằng 1, phường Phương Nam, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Công an thành phố Uông Bí phối hợp với Công an phường Phương Nam phát hiện bắt quả tang Phạm Minh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ trong quần lót T đang mặc 03 túi giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục và thu giữ của T số tiền 2.200.000đ (hai triệu hai trăm nghìn đồng).

Tại Bản kết luận giám định số 761/GĐMT, ngày 22/11/2017, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất bột màu trắng (ký hiệu từ M1 đến M3), thu giữ của Phạm Minh T là ma túy loại Heroine, tổng trọng lượng là 3,978g (ba phẩy chín bẩy tám gam).

Tại cơ quan điều tra, bị cáo Phạm Minh T khai nhận: Khoảng 8 giờ ngày 20/11/2017, T mang theo 5.500.000đ (năm triệu năm trăm nghìn đồng) ra đón xe ô tô khách từ Cẩm Phả sang thành phố Hải Phòng mục đích mua ma túy loại Heroin về sử dụng. Khi đến khu vực cầu Bính, thuộc thành phố Hải Phòng (T không rõ thuộc quận nào), T xuống xe khách và đón xe ôm vào khu vực đường tầu rồi đi bộ vào ngõ khoảng 100 mét thì gặp và hỏi mua của một người phụ nữ không quen biết 3.000.000đ (ba triệu đồng) ma túy Hêrôin, được 03 gói giấy bạc màu trắng. T cầm và mở 01 gói ra kiểm tra, thấy bên trong có chất bột màu trắng dạng cục đúng loại T cần mua nên cất giấu 03 gói ma túy vào bên trong quần lót đang mặc. Sau đó, T đi bộ ra đầu ngõ đón xe ôm đi đến khu vực Cầu Bính rồi đón xe ô tô khách về Quảng Ninh. Khi xe khách đi đến khu vực phường Phương Nam, thành phố Uông Bí thì bị lực lượng Công an kiểm tra người và phát hiện bắt quả tang T tàng trữ 03 (ba) gói ma túy như đã nêu trên.

Giai đoạn điều tra, ông Bùi Văn N và ông Cao Việt H là những người trực tiếp chứng kiến Công an thành phố Uông Bí kiểm tra, phát hiện bị cáo tàng trữ ma túy trên người thì bị bắt quả tang và thu giữ vật chứng, cũng có lời khai về toàn bộ nội dung sự việc bị cáo bị bắt quả tang như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKSUB ngày 24 tháng 01 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị can Phạm Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự của Bộ luật hình sự (năm 2015). Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Phạm Minh T đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015: xử phạt bị cáo Phạm Minh T từ 36 (ba mươi sáu) tháng đến 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt (ngày 20/11/2017). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: đề nghị tịch thu, tiêu hủy chất ma túy còn lại sau khi giám định; trả lại cho bị cáo số tiền 2.200.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại phiên tòa, bị cáo nhận tội và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo thừa nhận: Việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Uông Bí, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến là các ông Bùi Văn N và ông Cao Việt H; phù hợp với vật chứng bị thu giữ và bản Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo là Heroine, có trọng lượng là: 3,978 g (ba phẩy chín bẩy tám gam) như đã nêu trên. Bị cáo không được phép tàng trữ ma túy theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 20 phút, ngày 20/11/2017, tại tổ 1, khu Bạch Đằng 1, phường Phương Nam, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Minh T có hành vi tàng trữ trái phép 3,978 g (ba phẩy chín bẩy tám gam) ma túy loại Heroine, với mục đích để sử dụng thì bị Công an thành phố Uông Bí phát hiện, bắt quả tang.

Heroine là chất ma túy rất độc, bị Nhà nước tuyệt đối cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng theo quy định tại Nghị định số: 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố bị cáo và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở pháp luật.

Với những chứng cứ và quy định của pháp luật nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Phạm Minh T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định của Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý , thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…

c) Heroine … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”…

Đối chiếu với quy định của hai bộ luật nêu trên thấy: khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt nhẹ hơn so với khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 về cùng một tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo quy định tại khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số: 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội) và điểm b khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/7/2017) thì các quy định có lợi cho người phạm tội của Bộ luật hình sự năm 2015 được áp dụng.

Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến trật tự quản lý, kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an xã hội, làm bất bình trong quần chúng nhân dân địa phương. Ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, nó không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe về tinh thần và thể chất của người nghiện, gây lo lắng, buồn phiền cho những người thân trong gia đình, mà còn là một trong những nguyên nhân làm lan truyền bệnh tật và các tệ nạn xã hội khác.

Về nhân thân: Năm 2001, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đã chấp hành xong hình phạt. Theo quy định của Bộ luật hình sự thì bị cáo được đương nhiên xóa án tích và không bị coi là tái phạm. Tuy nhiên, sau khi bị kết án, bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân, lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh.

Giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước.

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, nhân thân xấu, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, không những nhằm trừng trị mà còn để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, phòng ngừa chung cho xã hội, đáp ứng được mục đích của hình phạt.

Theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo hoàn lại sau khi giám định là công cụ phạm tội và là vật cấm lưu hành, cần tịch thu và tiêu hủy. Số tiền 2.200.000 đồng thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội trả lại cho bị cáo.

Đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo không xác định được danh tính, địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số: 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội); Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 1, điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt bị cáo Phạm Minh T 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 20/11/2017).

3. Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) phong bì thư hoàn lại sau giám định số: 761/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh. Trả lại cho bị cáo Phạm Minh T số tiền 2.200.000đ (hai triệu hai trăm nghìn đồng). Tình trạng những vật chứng theo Biên bản giao vật chứng ngày 24/01/2018 giữa Công an thành phố Uông Bí và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

4. Buộc bị cáo Phạm Minh T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ