vanban.org

Bản án 20/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 06/02/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đào Thế H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đào Thế H 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2017. Về vật chứng của vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Thế H - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đào Thế H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LAI CHÂU
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2018/HS-ST
Ngày: 06/02/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phan Thị Phương

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Kim Quy

2. Ông Vũ Anh Bắc

Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Sơm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dịu - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2018/HSST ngày 18 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2018/QĐ – TA/QĐXXST – HS ngày 26 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo.

Đào Thế H(Tên gọi khác: Không); Sinh năm: 1969 tại tỉnh Thái Bình; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản P, xã S, thành phố L, tỉnh Lai Châu; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/10; Nghề nghiệp: Tự do; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông Đào Văn Đ (đ chết) và con bà Lê Thị D, sinh năm1941; Gia đình bị cáo có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Vợ: Vũ Thị H, sinh năm 1969; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 1999; Nhân thân: Ngày 05/6/2006 bị cáo bị Tòa án nhân dân thị x Lai Châu (nay là Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu), tỉnh Lai Châu xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, hiện đ được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 31/10/2017, tạm giam từ ngày 03/11/2017, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 14 giờ 10 phút ngày 31/10/2017 tại bản P, xã S, thành phố L, tỉnh Lai Châu, Đào Thế H đang cất giấu 02 gói Heroine được gói bên ngoài bằng mảnh nilon màu xanh vào trong chiếc mũ lưỡi trai bằng vải màu nâu đang đội trên đầu mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu phát hiện, thu giữ, ngoài ra Cơ quan cảnh sát điều tra còn thu giữ của H 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu nâu, 01 điện thoại di động vỏ màu đen mặt trước có chữ MASSTEL và số tiền 120.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đào Thế H đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đ nêu trên.

Về các vấn đề khác của vụ án: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đào Thế H khai nhận: Số Heroine bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Lai Châu thu giữ là do Kiều Văn T, sinh năm 1976, trú tại bản S1, xã S, thành phố L, tỉnh Lai Châu bảo H đi mua về để cùng nhau sử dụng, T đưa cho H tổng cộng 320.000 đồng để mua Heroine và mua xăng, H mua hết 200.000 đồng Heroine của một người đàn ông dân tộc Mông (H không biết tên, tuổi, địa chỉ) với giá 200.000 đồng vào ngày 31/10/2017, số tiền còn lại 120.000 đồng H chưa kịp trả lại cho T thì bị Cơ quan điều tra thu giữ. Còn 01 điện thoại di động vỏ màu đen mặt trước có chữ MASSTEL và 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu nâu là của bị cáo H.

Kết quả điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người bán Heroine cho H là ai, việc mua bán không có người chứng kiến, trong hồ sơ không có tài liệu khác để chứng minh, vì vậy không đề cập xử lý.

Đối với Kiều Văn T, Cơ quan điều tra đ tiến hành điều tra, xác minh nhưng hiện T không có mặt tại địa phương, không ai biết đi đâu, làm gì. Các tài liệu trong hồ sơ chưa đủ cơ sở để điều tra xử lý đối với Kiều Văn T.

Tại kết luận giám định số 438/GĐMT ngày 03/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 02 mẫu chất bột khô, vón cục, màu trắng thu giữ của Đào Thế H trong quá trình bắt quả tang gửi đến giám định có tổng trọng lượng là 0,1 gam là Heroine.

Tại bản cáo trạng số 03/CT - VKSTP ngày 18/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu đ truy tố bị cáo Đào Thế H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đào Thế H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14: Xử phạt bị cáo Đào Thế H từ 14 tháng đến 16 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2017. Áp dụng khoản 5 điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Đào Thế H 120.000 đồng (Một trăm hai mươi nghìn đồng) và 01 điện thoại di động vỏ màu đen mặt trước có chữ MASSTEL; Tịch thu tiêu hủy 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu nâu.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định nêu trên.

Tại lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về gia đình và x hội.

[

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho x hội của hành vi phạm tội: Khoảng 14 giờ 10 phút ngày 31/10/2017 tại khu vực bản P, xã S, thành phố L, tỉnh Lai Châu, bị cáo Đào Thế H có hành vi cất giấu trái phép 0,1 gam Heroine trên người nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu phát hiện, bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho x hội, đ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo cũng nhận thức được việc cất giấu trái phép Heroine là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn thỏa m n nhu cầu của bản thân nên vẫn có ý thực hiện. Bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà mình đ gây ra. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo H đ đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.

Vì vậy, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai và đúng quy định của pháp luật.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Đào Thế H có nhân thân xấu thể hiện: Ngày 05/6/2006 bị cáo bị Tòa án nhân dân thị x Lai Châu (nay là Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu), tỉnh Lai Châu xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, hiện đ được xóa án tích. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Do chính sách pháp luật thay đổi: Hình phạt đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là từ 01 năm đến 05 năm giảm nhẹ hơn mức hình phạt theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định là từ hai năm đến bảy năm. Do vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng có lợi cho bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị Quyết số 41/2017/QH14.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho x hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống x hội một thời gian nhất định để có cơ hội cai nghiện, răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho x hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: 0,1 gam Heroine, Cơ quan điều tra đ lấy toàn bộ để giám định và không hoàn lại mẫu vật nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

Đối với số tiền 120.000 đồng mà Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo, bị cáo khai đây là số tiền còn lại do Kiều Văn T đưa cho để mua Heroine và mua xăng. Ngoài lời khai duy nhất của bị cáo không có chứng cứ khác chứng minh, do vậy cần trả lại cho bị cáo số tiền trên theo quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

01 mũ lưỡi trai bằng vải màu nâu là của bị cáo dùng làm công cụ phạm tội, xét giá trị sử dụng không còn nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

01 chiếc điện thoại di động vỏ màu đen mặt trước có chữ MASSTEL mà Cơ quan Điều tra thu giữ không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

1. Tuyên bố bị cáo Đào Thế H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đào Thế H 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2017.

3. Về vật chứng của vụ án:

- Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Đào Thế H 120.000 đồng (Một trăm hai mươi nghìn đồng) và 01 điện thoại di động vỏ màu đen mặt trước có chữ MASSTEL.

- Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu nâu.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 19/01/2018 giữa Công an thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu).

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ