- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Thành T và đồng bọn phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Truy tố ra trƣớc Toà án nhân dân Thành phố Hƣng Yên để xét xử bị can Trịnh Thị Thùy Linh về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 100/2015/QH13 Phê duyệt chủ trương đầu tư các…; Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án
| Toµ ¸n nh©n d©n THÀNH PHỐ H TỈNH H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --***--- |
Bản án số: 20/2018/HSST
Ngày 19/6/2018
Nh©n danh
NƢíc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam
Toµ ¸n nh©n d©n THÀNH PHỐ H
Với hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
--------------------------
*/- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Quang L.
*/- Các hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Đào Đức T
2/ Ông Vũ Văn H
*/- Đại diện VKSND thành phố H: Bà Trần Thị L – Kiểm sát viên.
*/ Thƣ ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Bùi Mạnh Quyền - Thƣ ký.
Hôm nay ngày 19/6/2018, tại nhà văn hóa N, phƣờng M, TP H, tỉnh H mở phiên tòa lƣu động công khai để xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2018/HSST, ngày 04 tháng 5 năm 2018 và theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 20/2018/QĐXXST ngày 05/6/2018 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lƣơng Thành T (tên gọi khác: Không), sinh năm: 1981.
Hộ khẩu thƣờng trú: Số 11B C, phƣờng M, thành phố H, tỉnh H.
Chỗ ở: Số 11B C, phƣờng M, thành phố H, tỉnh H.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 12/12;
Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Họ và tên bố: Lƣơng Thanh B, sinh năm 1948. Nghề nghiệp: Hƣu trí.
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị S, sinh năm 1950. Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Gia đình bị cáo có 3 anh em, bị cáo là thứ 3.
Vợ, con: Chƣa có.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 22/11/2006 bị Tòa án nhân dân thị xã H xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
- Ngày 30/9/2008 bịTòa án nhân dân thị xã H xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
- Ngày 17/6/2010 bị UBND thành phố H áp dụng biện pháp bắt buộc đƣa vào Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dụng – Lao động xã hội tỉnh H về hành vi nghiện ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2018. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn H (tên gọi khác: Không), sinh năm: 1990.
Hộ khẩu thƣờng trú: Số 4/70 B, phƣờng M, thành phố H, tỉnh H.
Chỗ ở: Số 4/70 B, phƣờng M, thành phố H, tỉnh H.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 12/12;
Nghề nghiệp: Không.
Họ và tên bố: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1945. Đã chết.
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị X, sinh năm 1952. Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Vợ, con: Chƣa có.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 27/4/2012 bị UBND phƣờng M, thành phố H áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi nghiện ma túy.
- Ngày 15/5/2013, bị UBND thành phố H quyết định áp dụng bắt buộc đƣa vào Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dụng – Lao động xã hội tỉnh H về hành vi nghiện ma túy.
- Ngày 16/01/2015 bị UBND phƣờng M, thành phố H áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi nghiện ma túy.
- Ngày 20/01/2016 bị UBND phƣờng M, thành phố H áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi nghiện ma túy.
- Ngày 21/3/2017 bị UBND phƣờng M, thành phố H áp dụng biện pháp giáo dục tại xã/phƣờng/thị trấn/biện pháp quản lý tại gia đình về hành vi nghiện ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/3/2018. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.
3. Họ và tên: Lê Văn D (tên gọi khác: Không), sinh năm: 1971.
Hộ khẩu thƣờng trú: Đƣờng C, phƣờng M, thành phố H, tỉnh H.
Chỗ ở: Đƣờng C, phƣờng M, thành phố H, tỉnh H.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 7/10;
Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Họ và tên bố: Lê Văn N, sinh năm 1931. Đã chết.
Họ và tên mẹ: Lê Thị C, sinh năm 1932. Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Gia đình bị cáo có 7 anh em, bị cáo là thứ 7.
Vợ, con: Chƣa có.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 5/7/2004 bị Công an huyện D, tỉnh H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- Ngày 13/3/2008 bị Công an thị xã H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Ngày 01/2/2012 bị Công an phƣờng M, thành phố H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/3/2018. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên Tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Lƣơng Thành T sinh năm 1981, trú tại: số 11B đƣờng C, phƣờng M, thành phố H, Lê Văn D sinh năm 1971, trú tại: L, phƣờng M, thành phố H và Nguyễn Văn H sinh năm 1990, trú tại: 4/70 đƣờng B, phƣờng M, thành phố H là những ngƣời nghiện ma túy và có quen biết nhau từ trƣớc.
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 04/01/2018, Lƣơng Thành T chở Nguyễn Văn H bằng xe đạp của T đến khu vực ngã tƣ đƣờng B và đƣờng T thì gặp Lê Văn D, gặp nhau cả ba rủ nhau góp tiền mua ma túy về để cùng sử dụng. Do T là ngƣời biết chỗ mua ma túy nên D góp 60.000 đồng, H góp 70.000 đồng để cho T đi mua Heroin. Sau khi cầm tiền, T dùng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen bên trong lắp sim có số thuê bao 01652381011 gọi điện thoại đến số thuê bao 01257874486 của một ngƣời tên Đ ở phƣờng L, thành phố H (T không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) hỏi mua ma túy, Đ đồng ý và hẹn T ở khu vực vòng xuyến giao nhau giữa đƣờng Đ và đƣờng P. T đi xe đạp một mình, D và H đi xe đạp của D, cả ba đi đến đoạn đƣờng gần chùa C thì D và H rẽ vào một hiệu thuốc tây cạnh đƣờng (D, H không nhớ rõ địa chỉ và ngƣời bán hàng), H mua 3 xilanh và 3 ống Novocain để sử dụng ma túy. Còn T một mình đi đến khu vực vòng xuyến giao nhau giữa đƣờng Đ và đƣờng P gặp Đ rồi đƣa 130.000 đồng cho Đ, Đ cầm tiền và đƣa cho T 01 gói nhỏ bọc bằng giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột kết tinh màu trắng. T cầm gói ma túy vừa mua đƣợc trên tay trái và đi xe đạp về thì gặp D đang đứng đợi ở ngã ba đƣờng N và đƣờng B, T chở D đi về khu nghĩa trang ông T thuộc phƣờng M, thành phố H để cùng sử dụng ma túy. Khi đi đến trƣớc khu vực cổng trƣờng Trung học cơ sở M, thuộc đƣờng P, phƣờng M, thành phố H cả hai đứng lại đợi H đến để cùng sử dụng ma túy thì bị Tổ công tác của Công an thành phố H phối hợp cùng Công an phƣờng M kiểm tra, Tổ công tác phát hiện T đang thả 01 gói nhỏ bọc bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột kết tinh màu trắng từ tay trái xuống mặt đƣờng chỗ T đứng. T khai nhận đó là Heroin mua về để cùng Lê Văn D và Nguyễn Văn H sử dụng. Trong khi đang kiểm tra T và D thì Nguyễn Văn H đi xe đạp tới, Tổ công tác tiếp tục kiểm tra H phát hiện và thu giữ trong túi áo khoác H đang mặc trên ngƣời 03 xi lanh kim tiêm và 03 ống Novocain chƣa sử dụng.
- Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nhỏ bọc bằng giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột kết tinh màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, đã qua sử dụng bên trong lắp sim có số thuê bao 01652381011; 03 xilanh kim tiêm, 03 ống Novocain bằng thủy tinh loại 2ml chƣa qua sử dụng; 01 xe đạp đã qua sử dụng màu trắng có giỏ xe màu đen bị vỡ, xe có chuông xe đạp, tay lái của xe có một khóa dây màu xanh; 01 xe đạp mini đã qua sử dụng màu trắng, giỏ xe đạp màu đen, ghế sau của xe đạp gắn 1 ghế ngồi của trẻ em màu đen.
Kết luận giám định số 73/PC54 ngày 10/01/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục trong niêm phong ghi thu của Lƣơng Thành T có khối lƣợng 0,164 gam, là Heroin. Hoàn lại 0,130 gam Heroin trong niêm phong ghi thu của Lƣơng Thành T.
Quá trình điều tra xác định: Chiếc xe đạp đã qua sử dụng màu trắng có giỏ xe màu đen bị vỡ, xe có chuông xe đạp, tay lái của xe có một khóa dây màu xanh là của ông Lƣơng Thanh B sinh năm 1948 (bố đẻ Lƣơng Thành T); chiếc xe đạp mini đã qua sử dụng màu trắng, giỏ xe đạp màu đen, ghế sau của xe đạp gắn 1 ghế ngồi của trẻ em màu đen là của bà Lê Thị N sinh năm 1962 (chị dâu của Lê Văn D). Khi cho T, D mƣợn xe đạp ông B, bà N không biết T, D sử dụng để đi mua và tàng trữ ma túy. Ngày 18/01/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố H đã trả lại ông B, bà N chiếc xe đạp trên, ông B, bà N đã nhận lại xe và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
Đối với nam thanh niên tên Đ đã bán ma túy cho T, T khai không rõ tên, tuổi địa chỉ cụ thể. Cơ quan điều tra đã rà soát và cho T nhận dạng nhƣng không xác định đƣợc nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Quá trình điều tra, Lƣơng Thành T, Nguyễn Văn H, Lê Văn D thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nhƣ nêu trên.
Tại phiên toà hôm nay: BÞ c¸o Lƣơng Thành T, Nguyễn Văn H, Lê Văn D đã thành khẩn khai nhận tội là đã cùng nhau góp tiền mua ma túy để sử dụng chung nhƣ đã khai tại cơ quan điều tra và các bị cáo đề nghị HĐXX cho đƣợc hƣởng mức án thấp nhất để cải tạo tốt, sớm trở về với gia đình và xã hội.
Sau khi tranh tụng đại diện VKSND thành phố H vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố nhƣ bản cáo trạng và đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51, điều 17, Điều 58 – BLHS năm 2015, Điều 136 - BLTTHS và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 vÒ mức ¸n phÝ, lệ phí Tòa án đối với cả 3 bị cáo. Đề nghị HĐXX xử phạt:
1. Bị cáo Lƣơng Thành T từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng.
2. Bị cáo Nguyễn Văn H từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng.
3. Bị cáo Lê Văn D từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
*/- Các biện pháp tƣ pháp:
*/- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 điều 47 - BLHS; điểm a khoản 2 điều 106 - BLTTHS.
- Tịch thu cho tiêu hủy gồm: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định của PC 54 – Công an tỉnh Hƣng Yên, bên trong có 0,130g hêroin, 03 xi lanh kim tiêm, 03 ống Novocain bằng thủy tinh loại 2ml chƣa qua sử dụng;
- Tịch thu sung công quỹ nhà nƣớc: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, đã qua sử dụng bên trong lắp sim có số thuê bao 01652381011;
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra công khai tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về phân tích những chứng cứ xác định tội danh:
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên Tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau vµ phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang thu giữ vật chứng và biên bản niêm phong vật chứng ( BL 30 - 32); phù hợp với bản kết luận giám định ( BL 38); phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng ông Phạm Xuân Đ ( BL 61 - 64), là những ngƣời chứng kiến việc kiểm tra và thu giữ gói ma túy của các bị cáo. Ngoài ra lời khai của các bị cáo còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó có đủ căn cứ kết luận: Chiều ngày 04/01/2018, Lƣơng Thành T, Nguyễn Văn H và Lê Văn D là những ngƣời nghiện ma túy đã rủ nhau góp tiền mua ma túy về để cùng sử dụng, H góp 70.000 đồng, D góp 60.000 đồng đƣa cho T để đi mua ma túy. Đến khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày 04/01/2018, T cầm số tiền của H và D đƣa cho đi mua đƣợc 0,164gam Heroin, rồi đi cùng D đi đến khu vực cổng trƣờng Trung học cơ sở M, thuộc đƣờng P, phƣờng M, thành phố H đợi H đến để cùng nhau sử dụng thì bị Công an thành phố H kiểm tra phát hiện thu giữ. Trong khi đang kiểm tra T và D thì H đi đến, kiểm tra H thu giữ tiếp 03 xi lanh kim tiêm và 03 ống Novocain H mua mang đến để cùng T và D sử dụng ma túy.
Nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã Truy tố ra trƣớc Toà án nhân dân thành phố H để xét xử các bị cáo T, D và H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự năm 2015, là đúng quy định của pháp luật không oan sai.
Xét tính chất hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nƣớc về chất ma tuý. Vì vậy phải có một hình phạt thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.
Trong vụ án, T là ngƣời trực tiếp đi mua ma túy, H, D là đồng phạm góp tiền là những ngƣời giúp sức tích cực, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với vai trò của mình trong vụ án.
+ Tình tiết tăng nặng TNHS: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố đẻ của bị cáo T là ông Lƣơng Thanh B đƣợc Chủ tịch nƣớc tặng Huân chƣơng chiến sỹ vẻ vang hạng Ba; đƣợc Hội đồng cố vấn chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền nam Việt Nam tặng Huân chƣơng chiến sỹ giải phóng; đƣợc Hội đồng bộ trƣởng nƣớc CHXHCN Việt Nam tặng Huân chƣơng kháng chiến hạng Nhất và đƣợc tặng giấy khen vì đã hoàn thành tốt nhiệm vụ; Bà Nguyễn Thị X là mẹ đẻ bị cáo H: Năm 1985 đƣợc Nhà nƣớc tặng Huy chƣơng kháng chiến hạng nhất vì có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc; Ông Lê Xuân N là bố đẻ của bị cáo D: Năm 1964 đƣợc Hội đồng chính phủ tặng Huy chƣơng kháng chiến hạng Nhất, nên các bị cáo đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015.
Trong vụ án này lẽ ra phải áp dụng khoản 5 điều 249 – BLHS năm 2015, để phạt tiền đối với các bị cáo, nhƣng xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Các biện pháp tƣ pháp:
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 điều 47 - BLHS; điểm a khoản 2 điều 106 - BLTTHS;
- TÞch thu cho tiªu hñy gồm:
- 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định của phòng PC 54 – Công an tỉnh Hƣng Yên, bên trong có 0,130g heroin.
- 03 xi lanh kim tiêm, 03 ống NOVOCAIN bằng thủy tinh màu đen, đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nƣớc: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG màu đen đã qua sử dụng bên trong lắp sim có số thuê bao 01652381011 vì liên lạc để mua ma túy.
*/- Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại khoản 2 điều 136 - BLTTHS và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về mức án phí.
*/- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
V× c¸c lÏ trªn
QuyÕt ®Þnh
Tuyên bố: Các bị cáo Lƣơng Thành T, Nguyễn Văn H và Lê Văn D phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51, điểm a, c khoản 1 điều 47, Điều 17, Điều 58 – BLHS năm 2015; điểm a khoản 2 điều 106; khoản 2 điều 136 - BLTTHS và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về mức án phí, đối với các bị cáo.
Xử phạt:
1. Lƣơng Thành T 01 năm 09 tháng, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 04/01/2018.
2. Nguyễn Văn H 01 năm 06 tháng, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 24/3/2018.
3. Lê Văn D 01 năm 06 tháng, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 25/3/2018.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với cả 3 bị cáo
- Về vật chứng:
- TÞch thu cho tiªu hñy gồm: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định của phòng PC 54 – Công an tỉnh H, bên trong có 0,130g heroin, 03 xi lanh kim tiêm, 03 ống NOVOCAIN bằng thủy tinh chƣa qua sử dụng.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nƣớc: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG màu đen đã qua sử dụng bên trong lắp sim có số thuê bao 01652381011.
( Tình trạng số lƣợng nhƣ biên bản giao nhận vật chứng của cơ quan công an thành phố H giao cho chi cục thi hành án dân sự thành phố H)
- Về án phí: Buộc các bị cáo T, H và D mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo T, H và D có mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T/M Héi ®ång xÐt xö
THẨM PHÁN - Chñ to¹ phiªn toµ N¬i nhËn:
- VKSND thành phố H.
- CA thành phố H.
- Các bị cáo
- Phßng kiÓm tra- TAND tØnh.
Đỗ Quang L
- Lưu HS.
Toµ ¸n nh©n d©n
Céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam THÀNH PHỐ HƢNG YÊN
§éc lËp – Tù do – H¹nh phóc
-----------------------------
tØnh hƢng yªn
---***---Sè : 20/ BBNA
Biªn b¶n nghÞ ¸n
Toµ ¸n nh©n d©n THÀNH PHỐ HƢNG YÊN – tØnh hƢng yªn
Víi héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã :
----------------------------------
*/ ThÈm ph¸n – Chñ to¹ phiªn toµ : ¤ng §ç Quang LÞch.
*/ C¸c héi thÈm nh©n d©n :
1/ Ông Đào Đức Thuận – Cán bộ hƣu xã Phú Cƣờng, TP Hƣng Yên
2/ Ông Vũ Văn Hạnh – Cán bộ hƣu phƣờng An Tảo, TP Hƣng Yên.
*/- Đại diện VKSND thành phố Hƣng Yên: Bà Trần Thị Là – Kiểm sát viên.
*/ Thƣ ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Bùi Mạnh Quyền - Thƣ ký.
Vµo håi 09 giê 30 phót ngµy 19/6/ 2018, t¹i phßng nghÞ ¸n héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm ®· tiÕn hµnh nghÞ ¸n vô ¸n “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý ” thô lý sè 17/2018/HSST, ngµy 04 th¸ng 5 n¨m 2018 ®èi víi các bÞ c¸o:
1. Họ và tên: Lƣơng Thành Trung (tên gọi khác: Không), sinh năm: 1981.
Hộ khẩu thƣờng trú: Số 11B Chi Lăng, phƣờng Minh Khai, thành phố Hƣng Yên, tỉnh Hƣng Yên.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn Hùng (tên gọi khác: Không), sinh năm: 1990.
Hộ khẩu thƣờng trú: Số 4/70 Bãi Sậy, phƣờng Minh Khai, thành phố Hƣng Yên, tỉnh Hƣng Yên.
3. Họ và tên: Lê Văn Duy (tên gọi khác: Không), sinh năm: 1971.
Hộ khẩu thƣờng trú: Đƣờng Cừ, phƣờng Minh Khai, thành phố Hƣng Yên, tỉnh Hƣng Yên.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và của các bị cáo tại phiên toà. Hội đồng xét xử thảo luận những vấn đề phải giải quyết trong vụ án nhƣ sau:
Tuyên bố: Các bị cáo Lƣơng Thành Trung, Nguyễn Văn Hùng và Lê Văn Duy phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
BiÓu quyÕt : 3/3
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51, điểm a, c khoản 1 điều 47, Điều 17, Điều 58 – BLHS năm 2015; điểm a khoản 2 điều 106; khoản 2 điều 136 - BLTTHS và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về mức án phí, đối với các bị cáo.
BiÓu quyÕt : 3/3
Xử phạt:
1. Lƣơng Thành Trung 01 năm 09 tháng, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 04/01/2018.
2. Nguyễn Văn Hùng 01 năm 06 tháng, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 24/3/2018.
3. Lê Văn Duy 01 năm 06 tháng, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 25/3/2018.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với cả 3 bị cáo
BiÓu quyÕt : 3/3
- Về vật chứng:
- TÞch thu cho tiªu hñy gồm: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định của phòng PC 54 – Công an tỉnh Hƣng Yên, bên trong có 0,130g heroin, 03 xi lanh kim tiêm, 03 ống NOVOCAIN bằng thủy tinh chƣa qua sử dụng.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nƣớc: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG màu đen đã qua sử dụng bên trong lắp sim có số thuê bao 01652381011.
( Tình trạng số lƣợng nhƣ biên bản giao nhận vật chứng của cơ quan công an thành phố Hƣng Yên giao cho chi cục thi hành án dân sự thành phố Hƣng Yên).
BiÓu quyÕt : 3/3
- Về án phí: Buộc các bị cáo Trung, Hùng và Duy mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.
BiÓu quyÕt : 3/3
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Trung, Hùng và Duy có mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
BiÓu quyÕt : 3/3
Biªn b¶n lËp xong håi 11 giê 30 phót ngµy 15 th¸ng 11 n¨m 2017. C¸c thµnh viªn héi ®ång xÐt xö ®· ®ƣîc nghe ®äc vµ nhÊt trÝ ký vµo biªn b¶n.
Héi ®ång xÐt xö
C¸c héi thÈm nh©n d©n
Chñ to¹ phiªn toµ
Vũ Văn Hạnh
Đào Đức Thuận
Đỗ Quang Lịch
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HƢNG YÊN
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH HƢNG YÊN
Hưng Yên, ngày 26 tháng 12 năm 2017
Số: 01/2017/QĐ-SCBSBA
QUYẾT ĐỊNH
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN SƠ THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƢNG YÊN
Căn cứ vào kiến nghị số 01/KN – VKS ngày 25/12/2017, về việc tại bản án số 60/2017/HSST ngày 15/11/2017 của TAND thành phố Hƣng Yên, không áp dụng không áp dụng khoản 1 điều 194 – BLHS.
Xét cần sửa chữa, bổ sung bản án số 60/2017/HSST, ngày 15 tháng 11năm 2017của Toà án nhân dân thành phố Hƣng Yên đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Hà – Sinh năm 1989,
- Sinh trú quán: Thôn Đằng Châu, phƣờng Lam Sơn, TP Hƣng Yên.
Về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 194 – BLHS.
QUYẾT ĐỊNH:
Sửa chữa, bổ sung Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2017/HSST ngày 15/11/2017 của
TAND thành phố Hƣng Yên nhƣ sau:
Tại dòng thứ 2 đến dòng thứ 4 từ trên xuống của phần quyết định của bản án, trang 5 của bản án đã ghi: “ Áp dụng điểm h khoản 2 điều 2 nghị quyết 41 của UBTVQH; khoản 3 điều 7 – BLHS năm 2015 quy định về tình tiết có lợi cho bị cáo; điểm c khoản 1 Điều 249 – BLHS năm 2015; ®iÓm p kho¶n 1 ®iÒu 46; ®iÓm c kho¶n 1 ®iÒu 41 - BLHS; ®iÓm a kho¶n 2 ®iÒu 76; ®iÒu 99 - BLTTHS vµ nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 vÒ mức ¸n phÝ.
Nay sửa chữa, bổ sung nhƣ sau: Áp dụng: khoản 1 điều 194 – BLHS năm 1999; điểm h khoản 2 điều 2 nghị quyết 41 của UBTVQH; khoản 3 điều 7 – BLHS năm 2015 quy định về tình tiết có lợi cho bị cáo, nên áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 – BLHS năm 2015; ®iÓm p kho¶n 1 ®iÒu 46; ®iÓm c kho¶n 1 ®iÒu 41 - BLHS; ®iÓm a kho¶n 2 ®iÒu 76; ®iÒu 99 - BLTTHS vµ nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 vÒ mức ¸n phÝ. Nơi nhận:
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND thành phố Hưng Yên.
- CA thành phố Hưng Yên.
- Bị cáo và người có QLNVLQ
- Phßng kiÓm tra- TAND tØnh.
- Lưu HS. VIỆN KSND TỈNH HƢNG YÊN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VIỆN KSND TP HƢNG YÊN
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TP. Hưng Yên, ngày tháng 12 năm 2017
Số: /QĐ - VKS - HS
CÁO TRẠNG
VIỆN TRƢỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƢNG YÊN
- Căn cứ các Điều 36, 166, 167 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 88 ngày 09 tháng 9 năm 2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hƣng Yên về vụ Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điều 194 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ Quyết định khởi tố bị can số 103 ngày 09 tháng 9 năm 2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hƣng Yên đối với Đỗ Văn Hóa về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điều 194 của Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:
Hồi 11 giờ 25 phút ngày 08/9/2017 tại khu vực Công viên Hồ Nam Hòa, thuộc phƣờng Lê Lợi, thành phố Hƣng Yên, tỉnh Hƣng Yên, tổ công tác Công an phƣờng Lê Lợi bắt quả tang Đỗ Văn Hóa, sinh năm 1986, sinh trú quán tại thôn Tân Hƣng, xã Hùng Cƣờng, thành phố Hƣng Yên, tỉnh Hƣng Yên, đang có hành vi tàng trữ 01 gói giấy nhỏ màu trắng, bên trong có chứa chất màu trắng đục dạng cục và bột, tại chỗ Hóa tự khai nhận đó là Heroin, Hóa cất giấu nhằm mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản niêm phong 01 gói Heroin và đƣa tất cả về trụ sở làm việc. (Bút lục số 06-07).
Vật chứng thu giữ gồm:
- 0,208 gam Heroin, thu giữ của Đỗ Văn Hóa.
- 01 xe đạp màu sơn đỏ, phần sơn xe tại nhiều vị trí đã bị bong tróc hoen rỉ. Yên xe màu đen, xe không có giỏ.
Tại bản Kết luận giám định số 276/PC54, ngày 15/9/2017 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hƣng Yên kết luận: Chất màu trắng dạng bột và cục trong niêm phong có trọng lƣợng: 0,208gam (không phẩy hai không tám gam) là ma túy, loại Heroin. Mẫu Hoàn lại sau giám định là: 0,173 gam Heroin (Bút lục số 09-13 ).
Mở rộng điều tra Hóa khai nhận: Khoảng 10h30 ngày 08/9/2017, Hóa mƣợn xe đạp của mẹ đẻ là bà Bùi Thị Huê, sinh năm 1955, trú tại: Tân Hƣng, xã Hùng Cƣờng, thành phố Hƣng Yên, để đi đến nhà anh Đỗ Hoàng Luân, sinh năm 1981, trú tại: thôn Tân Hƣng, xã Hùng Cƣờng, thành phố Hƣng Yên chơi. Tại nhà Luân, Luân rủ Hóa góp tiền để mua Heroin sau đó cùng sử dụng. Hóa đồng ý, Luân đƣa cho Hóa 50.000đồng (năm mƣơi nghìn đồng). Hóa cầm tiền của Luân đƣa rồi đi xe đạp về nhà Hóa gặp bà Bùi Thị Huê và xin đƣợc 50.000 đồng. Sau đó Hóa quay lại đón Luân và chở Luân bằng xe đạp của Hóa đi đến khu vực ngã tƣ giao nhau giữa đƣờng Điện Biên và đƣờng Nguyễn Thiện Thuật thuộc phƣờng Lê Lợi, thành phố Hƣng Yên. Tại đây, Hóa và Luân gặp anh Nguyễn Văn Long, sinh năm 1977, trú tại: Ngõ 83 Nguyễn Thiện Thuật, phƣờng Lê Lợi, TP Hƣng Yên, Luân có nói với Long “hai anh em tao có một trăm nghìn mày lấy hộ tao”, sau đó Hóa nói với Long “hai anh em tao có một trăm nghìn thôi mày lấy hộ bọn tao” (ý Hóa muốn nhờ Long mua hộ Heroin với số tiền 100.000 đồng). Long đồng ý và cầm 100.000 đồng do Hóa đƣa cho và nói “tao cũng có một trăm nghìn đồng, để tao đi lấy hai trăm nghìn Heroin về cùng sử dụng” rồi lấy xe đạp của Hóa đi mua Heroin. Hóa và Luân đi bộ ra khu vực Công viên Hồ Nam Hòa, phƣờng Lê Lợi, thành phố Hƣng Yên để đợi Long. Khoảng 10 phút sau, Long đi đến đƣa cho Hóa 01 gói giấy nhỏ màu trắng. Hóa mở gói giấy ra xem thì thấy bên trong có chứa chất màu trắng đục dạng cục, bột, vì là ngƣời nghiện ma túy nên Hóa biết đƣợc chất màu trắng đục dạng cục và bột này là Heroin. Sau khi đƣa gói Heroin cho Hóa, Long nói “để tao đi mua xi lanh và nước cất để sử dụng” rồi Long đi xe đạp về hƣớng đƣờng Nguyễn Thiện Thuật. Đến 11h25 cùng ngày, khi Hóa và Luân đang đứng tại Công viên Hồ Nam Hòa chờ Long quay lại để cùng sử dụng ma túy, thì tổ công tác của Công an phƣờng Lê Lợi, thành phố Hƣng Yên đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Hóa đang tàng trữ trái phép chất ma túy (Bút lục số 53-55, 71-81 ).
Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Hoàng Luân khai nhận: Khoảng 10h30 ngày 08/9/2017 khi anh Luân đang ở nhà một mình thì anh Đỗ Văn Hóa đi xe đạp tới nhà Luân. Tại nhà Luân, Hóa có rủ Luân đi xuống khu vực trung tâm thành phố Hƣng Yên chơi. Luân đồng ý, sau đó Hóa đi xe đạp về nhà khoảng 5 phút sau quay lại đón Luân. Hóa chở Luân đến khu vực ngã tƣ giao nhau giữa đƣờng Điện Biên và đƣờng Nguyễn Thiện Thuật, Lê Lợi, thành phố Hƣng Yên gặp 01 ngƣời nam thanh niên khoảng 40 tuổi là bạn của Hóa đang ngồi chơi tại đây. Hóa đến gặp và nói chuyện với ngƣời thanh niên này đƣợc một lúc thì ngƣời thanh niên mƣợn xe đạp của Hóa rồi bỏ đi. Sau đó, Luân và Hóa đi bộ đến Công viên Hồ Nam Hòa chơi lúc này nam thanh niên mƣợn xe đạp của Hóa cũng quay lại gặp Hóa. Nam thanh niên nói chuyện với Hóa xong đi xe đạp về đƣờng Nguyễn Thiện Thuật. Đến 11h25 cùng ngày, khi Hóa và Luân đứng tại Công viên Hồ Nam Hòa bị tổ công tác đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Hóa. Luân không thừa nhận đã góp tiền cùng Hóa đi mua ma túy, việc Hóa tàng trữ trái phép chất ma túy trên ngƣời Luân không biết. Luân cũng không biết nam thanh niên mƣợn xe đạp của Hóa là ai, ở đâu. Sau này Luân mới biết nam thanh niên này là Long. Đây là lần đầu tiên Luân gặp Long, Luân không nhờ Long đi mua ma túy và không chứng kiến Long đƣa ma túy hay đồ vật gì cho Hóa (Bút lục số 67-70).
Tại Cơ quan điều tra, Long khai: Khoảng 10h50 ngày 08/9/2017, khi anh Long đang ngồi chơi một mình tại khu vực ngã tƣ giao nhau giữa đƣờng Điện Biên và đƣờng Nguyễn Thiện Thuật, phƣờng Lê Lợi, thành phố Hƣng Yên, Long thấy Hóa chở 01 nam thanh niên đến gặp Long (Hóa là bạn quen biết từ trƣớc của Long). Tại đây, Long và Hóa nói chuyện với nhau đƣợc một lúc sau đó Long hỏi mƣợn xe đạp của Hóa để đi mua thuốc lá. Lúc sau Long quay lại để trả xe đạp thì không thấy Hóa đâu. Long đi tìm thì thấy Hóa và nam thanh niên đi cùng đang ở khu vực Công viên Hồ Nam Hòa. Long đứng lại nói chuyện với Hóa sau đó tiếp tục hỏi mƣợn xe đạp của Hóa để đi về nhà. Đến khoảng 12h50 phút cùng ngày Long đi tìm Hóa để trả xe nhƣng không gặp. Sau này, Long mới biết đƣợc Hóa tàng trữ trái phép chất ma túy và đã bị Công an phƣờng Lê Lợi bắt quả tang. Long không thừa nhận Hóa đƣa tiền cho Long đi mua ma túy cho Hóa. Long không biết nam thanh niên đi cùng Hóa là ai, sau này Long mới biết ngƣời này tên là Luân. Đây là lần đầu tiên Long gặp Luân, Luân cũng không nhờ Long đi mua ma túy. Ngày 09/9/2017 Nguyễn Văn Long đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hƣng Yên giao nộp 01 chiếc xe đạp đã mƣợn của Đỗ Văn Hóa (Bút lục số 63-66).
Tiến hành đối chất giữa Hóa và Luân, Luân không thừa nhận việc rủ Hóa đi mua ma túy và đƣa số tiền 50.000 đồng cho Hóa. Hóa khai tại thời điểm Luân đƣa tiền, rủ Hóa đi mua ma túy không có ai chứng kiến, biết việc. Vì vậy không có căn cứ chứng minh làm rõ đối với Luân (Bút lục số 49-50).
Tiến hành đối chất giữa Hóa và Long. Long không thừa nhận việc nhận tiền của Hóa đi mua ma túy sau đó đƣa ma túy cho Hóa. Hóa khai, khi Hóa đƣa tiền nhờ Long đi mua ma túy và khi Long đƣa ma túy cho Hóa tại Công viên Hồ Nam Hòa chỉ có Luân ở đó chứng kiến và biết việc nhƣng Luân và Long đều khai nhận không có việc này. Vì vậy không có căn cứ chứng minh làm rõ đối với Long (Bút lục số 51-52).
Đối với chiếc xe đạp của bà Bùi Thị Huê, khi bà Huê cho Hóa mƣợn xe đạp và Hóa xin bà Bùi Thị Huê số tiền 50.000 đồng nhƣng bà Huê không biết Hóa mƣợn xe để đi đâu và xin tiền để làm gì vì vậy không có căn cứ để xem xét xử lý (Bút lục số 59-62).
Quá trình điều tra Đỗ Văn Hóa đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ đã nêu trên. Lời nhận tội của bị can phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án (Bút lục số 06-07, 53-55,71-81).
Căn cứ vào các chứng cứ nêu trên đã có đủ cơ sở:
KẾT LUẬN
Khoảng 11 giờ 25 phút ngày 08/9/2017 tại khu vực Công viên Hồ Nam Hòa, thuộc phƣờng Lê Lợi, thành phố Hƣng Yên, tỉnh Hƣng Yên, Đỗ Văn Hóa có hành vi tàng trữ 0,208 gam (không phẩy hai không tám gam) Heroin, nhằm mục đích để sử dụng.
Do Đỗ Hoàng Luân không thừa nhận việc rủ Hóa đi mua ma túy và đƣa số tiền 50.000 đồng cho Hóa, tại thời điểm Luân đƣa tiền, rủ Hóa đi mua ma túy không có ai chứng kiến, biết việc nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Nguyễn Văn Long, khi Hóa đƣa tiền nhờ Long đi mua ma túy và khi Long đƣa ma túy cho Hóa tại Công viên Hồ Nam Hòa nhƣng Luân và Long đều khai nhận không biết có việc này nên không có căn cứ để xử lý. Như vậy có đủ căn cứ để xác định bị can có lý lịch dưới đây đã phạm tội như sau:
Họ và tên: Đỗ Văn Hóa, sinh năm 1986,
Sinh trú quán: Thôn Tân Hƣng, xã Hùng Cƣờng, thành phố Hƣng Yên, tỉnh Hƣng Yên
Quốc tịch: Việt Nam.
Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 9/12.
Nghề nghiệp : Lao động tự do.
Con ông Đỗ Văn Hƣng (đã chết)
Con bà Bùi Thị Huê, sinh năm 1955
Gia đình bị can có 4 anh em, Bị can là con út trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 12/12/2008 Công an TP Hƣng Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Ngày 25/7/2012 Tõa án nhân dân quận Cầu Giấy, TP Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị can là đối tƣợng nghiện ma túy.
Bị can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/9/2017. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hƣng Yên.
Hành vi tàng trữ 0,208 gam Heroin nhằm mục đích để sử dụng nhƣ đã nêu trên của bị can Đỗ Văn Hóa đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.
Điều 194 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.”
Hành vi phạm tội của Đỗ Văn Hóa đƣợc quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù, nhẹ hơn so với khung hình phạt của khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự hiện hành.
Căn cứ điểm h khoản 2 Nghị quyết 41 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 cần áp dụng các quy định có lợi của Bộ luật hình sự năm 2015 cho Đỗ Văn Hóa khi quyết định hình phạt cụ thể.
Từ những căn cứ nêu trên:
QUYẾT ĐỊNH
Truy tố ra trƣớc Toà án nhân dân thành phố Hƣng Yên để xét xử bị can Đỗ Văn Hóa, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.
Kèm theo bản Cáo trạng là hồ sơ vụ án gồm
bút lục, đƣợc đánh số thứ tự từ 01 đến . Quyết định chuyển vật chứng; Danh sách, địa chỉ những ngƣời cần triệu tập đến phiên toà. Nơi nhận:
KT. VIỆN TRƢỞNG
- VKSND tỉnh – Phòng 1 (Để B/c);
- Cơ quan CSĐT- Công an TP Hưng Yên (Đ/b);
- Hồ sơ vụ án;
- Hồ sơ kiểm sát;
- Bị can;
- Lưu.
BÁO CÁO ÁN
Phiên tòa ngày 15/11/2017
Vụ án” Mua bán trái phép chất ma túy”
HĐXX: Chủ tọa: Lịch, HTND: Chiến, Thu; TK: Quyền; KS: Tuấn
Họ và tên: Nguyễn Văn Hà Sinh năm 1989.
Sinh trú quán: thôn Đằng Châu, phƣờng Lam Sơn, thành phố Hƣng Yên, tỉnh Hƣng Yên.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông: Nguyễn Văn Đạt, sinh năm 1965.
Con bà: Nguyễn Thị Liên, sinh năm 1967.
Vợ: Trần Thị Thiêm, sinh năm 1993 (đã ly hôn).
Bị cáo có 01 con sinh năm 2011.
Tiền án, tiền sự: Chƣa có.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/7/2017. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hƣng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Khoảng 12 giờ 20 phút ngày 05/7/2017, Nguyễn Văn Hà sinh năm 1989 trú tại Đội 8, thôn Đằng Châu, phƣờng Lam Sơn, thành phố Hƣng Yên, tỉnh Hƣng Yên điều khiển xe mô tô biển số 89H3 - 7305 chở ông Nguyễn Văn Chuông, sinh năm 1965, trú tại thôn Đằng Châu, phƣờng Lam Sơn, Thành phố Hƣng Yên đi đến trƣớc cửa nhà Hà thì tổ công tác Công an thành phố Hƣng Yên kiểm tra hành chính. Tại chỗ, Hà tự nguyện giao nộp 02 túi nilon nhỏ màu trắng có viền màu xanh kích thƣớc (2 x 2)cm và (1,5 x 2)cm, bên trong hai túi đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, Hà khai nhận chất rắn trong 02 túi nilon là ma túy “đá” Hà vừa mua của Hoàng Tuấn Anh sinh năm 1990 ở thôn Kim Đằng, phƣờng Lam Sơn, thành phố Hƣng Yên về để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản vụ việc, niêm phong, thu giữ 02 túi nilon nhỏ màu trắng có chứa ma túy nêu trên và 01 xe mô tô nhãn hiệu Motostar sơn màu xanh, biển số 89H3 - 7305.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hƣng Yên khám xét khẩn cấp ngƣời và nơi ở của Hoàng Tuấn Anh. Quá trình khám xét thu giữ tại túi quần bên trái Tuấn Anh đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã cũ, số tiền 600.000 đồng và thu giữ dƣới gầm giƣờng trong phòng ngủ của Tuấn Anh 01 bộ cóong tự chế làm từ vỏ chai nhựa và ống hút nhựa, 01 túi nilon viền màu đỏ, kích thƣớc 2 x 3cm.
Kết luận giám định số 3394/C54(TT2) ngày 09/8/2017 của Viện khoa học hình sự - Tổng cục cảnh sát kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể trong 02 túi nilon gửi giám định đều là ma túy, có tổng trọng lƣợng 1,390 gam loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn Hà thay đổi lời khai: khoảng hơn 11 giờ ngày 05/7/2017, Hà mƣợn xe mô tô nhãn hiệu Motostar sơn màu xanh, biển số 89H3 - 7305 của ông Nguyễn Văn Chuông sinh năm 1965 ở thôn Đằng Châu, phƣờng Lam Sơn, thành phố Hƣng Yên đi đến khu vực cách cầu Yên Lệnh khoảng 01km thuộc địa phận tỉnh Hà Nam và mua của một ngƣời thanh niên (không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) 02 gói ma túy với giá 600.000 đồng rồi cất giấu trong túi quần đang mặc trên ngƣời. Trên đƣờng đi về Hà rẽ vào nhà Hoàng Tuấn Anh để trả cho Tuấn Anh số tiền 600.000 đồng mà Hà đã vay trƣớc đó. Rồi Hà đi về và nhờ ông Chuông chở về nhà, khi Công an kiểm tra hành chính, Hà tự nguyện giao nộp 02 gói ma túy trên.
Hoàng Tuấn Anh khai: Ngày 04/7/2017 đã dùng 01 bộ cóong tự chế làm từ vỏ chai nhựa và ống hút nhựa để sử dụng trái phép chất ma túy. Trƣa ngày 05/7/2017 Nguyễn Văn Hà đã vào nhà Tuấn Anh để trả số tiền 600.000 đồng mà Hà đã vay trƣớc đó. Tuấn Anh khẳng định không bán ma túy cho Hà.
Ngày 03/10/2017 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hƣng Yên đã trả lại cho Hoàng Tuấn Anh 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã cũ, số tiền 600.000 đồng. Tuấn Anh nhận lại tài sản và không có đề nghị gì.
Quá trình điều tra xác định xe mô tô nhãn hiệu Motostar sơn màu xanh, biển số 89H3 - 7305 là của ông Nguyễn Văn Chuông, sinh năm 1965, trú tại thôn Đằng Châu, phƣờng Lam Sơn, Thành phố Hƣng Yên. Ông Chuông cho Hà mƣợn xe nhƣng không biết Hà sử dụng xe để đi mua và tàng trữ trái phép ma túy. Ngày 28/7/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hƣng Yên đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông Chuông, ông Chuông nhận lại tài sản và không có đề nghị gì.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn Hà đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 64 /QĐ – VKS ngày 20 tháng 10 năm 2017, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hƣng Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Hà ra trƣớc TAND thành phố Hƣng Yên để xét xử về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 194 của bộ luật hình sự.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HỒ SƠ
- Về tố tụng: Đảm bảo đúng quy định của pháp luật
- Về chứng cứ:
Bị cáo Nguyễn Văn Hà tại cơ quan điều tra, đã thành khẩn khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo thành phï hîp biên bản vụ việc kiểm tra thu giữ vật chứng và biên bản niêm phong vật chứng; phù hợp với b¶n kÕt luËn gi¸m ®Þnh và phù hợp với lời khai của những ngƣời làm chứng.
Căn cứ vào điểm h khoản 2 nghị quyết 41 của UBTVQH; khoản 3 điều 7 – BLHS năm 2015 quy định về tình tiết có lợi cho các bị cáo, nên áp dụng điểm c khoản 1 điều 249 – BLHS năm 2015, để xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
T×nh tiÕt gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù cña bÞ c¸o: T¹i c¬ quan điều tra bÞ c¸o Nguyễn Văn Hà đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình; nªn bÞ c¸o đƣợc hƣëng t×nh tiÕt gi¶m nhÑ quy ®Þnh t¹i ®iÓm p kho¶n 1 ®iÒu 46 - BLHS.
Tình tiết tăng nặng: Không
ĐỀ XUẤT CỦA THẨM PHÁN
*/ Tuyên bố: Bị Cáo Nguyễn Văn Hà phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
*/ - ¸p dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249 – BLHS năm 2015 ; ®iÓm p khoản 1 ®iÒu 46; ®iÓm c kho¶n 1 ®iÒu 41 - BLHS; ®iÓm a kho¶n 2 ®iÒu 76; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về mức án phí và ®iÒu 99 – BLTTHS.
*/ - Xö ph¹t: BÞ c¸o Nguyễn Văn Hà 01 n¨m 03 tháng - 01 năm 06 tháng tï. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngµy 19/6/2017.
Kh«ng ¸p dông h×nh ph¹t bæ sung lµ ph¹t tiÒn ®èi víi bÞ c¸o.
+ Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ 01 bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định, bên trong có: 0,8gam Methamphetamine.
*/ - VÒ ¸n phÝ: Buéc bÞ c¸o Nguyễn Văn Hà ph¶i chÞu 200.000đ ¸n phÝ HSST.
Ngƣời báo cáo
Đỗ Quang Lịch
Toµ ¸n nh©n d©n
Céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam
THÀNH PHỐ HƢNG YÊN
§éc lËp – Tù do – H¹nh phóc
tØnh hƢng yªn
-----------------------------
---***---
Hưng Yên , ngµy 27 th¸ng 9 n¨m 2016
Sè : 52/ BBNA
Biªn b¶n nghÞ ¸n
Toµ ¸n nh©n d©n THÀNH PHỐ HƢNG YÊN – tØnh hƢng yªn
Víi héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã :
----------------------------------
*/- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Quang Lịch.
*/- Các hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Phạm Minh Đức – Phó hiệu trƣởng Trƣờng tiểu học xã Phƣơng Chiểu.
2/ Bà Nguyễn Thị Hệ – Cán bộ hƣu phƣờng Lê Lợi, TP Hƣng Yên.
H«m nay, ngµy 27/9/2016 t¹i phòng nghị án tại nhà văn hóa xã Phƣơng Chiểu, HĐXX đã tiến hành nghị án vô ¸n h×nh sù s¬ thÈm thô lý sè 48/2016/HSST, ngµy 08 th¸ng 9 n¨m 2016 ®èi víi bÞ c¸o: Trịnh Thị Thùy Linh, sinh năm: 1993.
HKTT: Thôn Phƣơng Thƣợng, xã Phƣơng Chiểu, thành phố Hƣng Yên.
Chỗ ở: phòng số 3, nhà số 8 Bãi Sậy, Hiến Nam, thành phố Hƣng Yên.
C¨n cø vµo c¸c chøng cø vµ tµi liÖu ®· ®ƣîc thÈm tra t¹i phiªn toµ , trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ toµn diÖn c¸c chøng cø , ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn vµ cña bÞ c¸o cùng những ngƣời tham gia tố tụng khác. Héi ®ång xÐt xö th¶o luËn nh÷ng vÊn ®Ò ph¶i gi¶i quyÕt trong vô ¸n nhƣ sau:
Tuyªn bè: BÞ c¸o Trịnh Thị Thùy Linh ph¹m téi "Mua b¸n tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.
BiÓu quyÕt : 3/3
- Áp dụng: Kho¶n 1 ®iÒu 194; ®iÓm p kho¶n 1 và khoản 2 ®iÒu 46; ®iÓm a, b, c kho¶n 1 ®iÒu 41 - BLHS; ®iÓm a, c kho¶n 2 ®iÒu 76; ®iÒu 99 - BLTTHS vµ ph¸p lÖnh sè 10/2009/UBTVQH12 ngµy 27/02/2009 cña UBTVQH vÒ ¸n phÝ, lÖ phÝ toµ ¸n.
- Xö ph¹t: BÞ c¸o Trịnh Thị Thùy Linh 02 ( Hai) n¨m tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 07/6/2016. Tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
- Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
BiÓu quyÕt : 3/3
- VÒ vËt chøng:
+ TÞch thu cho tiªu hñy: 01 ( Một) phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định của C54 – Bộ công an số 2480/C54 (TT2) bên trong có: 0,060gam mẫu vật có thành phần Methamphetamine và các vỏ bao gói.
+ Tịch thu sung quỹ nhà nƣớc: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel mà đen, có viền màu xanh, lƣng không có ốp, có lắp 02 số thuê bao là 01214133950 và 0986568677 thu của Trần Viết Hoàn và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, lƣng màu xanh đã qua sử dụng, có số thuê bao là 01685950125 thu của Trịnh Thị Thùy Linh.
( Tình trạng số lƣợng nhƣ biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 9 năm 2016, của cơ quan công an thành phố Hƣng Yên giao cho chi cục thi hành án dân sự thành phố Hƣng Yên)
- Tịch thu sung quỹ nhà nƣớc 500.000đ, là số tiền do bị cáo Linh bán ma túy cho Trần Viết Hoàn mà có ( Hiện có tại tài khoản của chi cục thi hành án dân sự thành phố Hƣng Yên, tỉnh Hƣng Yên)
BiÓu quyÕt : 3/3
- Về án phí: Buộc bị cáo Trịnh Thị Thùy Linh phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.
BiÓu quyÕt : 3/3
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa đƣợc quyÒn kh¸ng c¸o b¶n ¸n trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần viết Hoàn vắng mặt tại phiên tòa, đƣợc quyÒn kh¸ng c¸o b¶n ¸n trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy nhận đƣợc hoặc ngày niêm yết bản sao bản án tại UBND nơi thƣờng trú.
BiÓu quyÕt : 3/3
Biªn b¶n lËp xong håi 10 giê 20 phót ngµy 27 th¸ng 9 n¨m 2016. C¸c thµnh viªn héi ®ång xÐt xö ®· ®ƣîc ®äc lại vµ nhÊt trÝ ký vµo biªn b¶n.
Héi ®ång xÐt xö
C¸c héi thÈm nh©n d©n
Chñ to¹ phiªn toµ
BÁO CÁO ÁN
Phiên ngày 27/9/2016
CT: LÞch; HTND: Hệ, Đức; TK: Việt; KSV: Hảo
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay, hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng là anh Phạm Xuân Bào (Bl 77 - 79) và phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã đƣợc thu thập đƣợc có trong hồ sơ vụ án nhƣ: Biên bản kiểm tra hành chính đối với Long thu giữ 04 gói giấy bạc bên trong là hêrôin và biên bản niêm phong vật chứng (BL 17 - 18), đồng thời phù hợp bản kết luận giám định số 23/PC54 ngày 27/12/2016 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hƣng Yên, cùng các tài liệu khác liên quan có trong hồ sơ vụ án.
Nên đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 20/12/2016 tại khu vực dốc đê đƣờng Phan Đình Phùng, phƣờng Minh Khai, thành phố Hƣng Yên, tỉnh Hƣng Yên Ngô Phi Long đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,081 gam (không phẩy không tám một gam) Heroin nhằm mục đích để sử dụng.
Ngô Phi Long là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi cất giấu 0.081 gam heroin in để sử dụng của bị cáo, tuy chƣa đến 0,1 gam Heroin nhƣng trƣớc đó vào ngày 29/7/2013 bị cáo Long đã bị Tòa án nhân dân thành phố Hƣng Yên xử phạt 03 năm 06 tháng tù về Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đến nay chƣa đƣợc xóa án tích, nên hành vi của bị cáo Long đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hƣng Yên đã truy tố bị cáo Ngô Phi Long ra trƣớc TAND thành phố Hƣng Yên để xét xử về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về điều luật áp dụng: Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13; điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội; khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội để áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, để xét xử bị cáo.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nƣớc đối với ma túy. Bản thân bị cáo có nhân thân rất xấu, nhiều lần bị Tòa án các cấp xét xử: Năm 1987 Tòa án nhân dân tỉnh Hải Hƣng xử phạt 2 năm tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân; Năm 1994 Tòa án nhân dân thị xã Hƣng Yên xử phạt 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân; Năm 1996 Tòa án nhân dân thị xã Hƣng Yên xử phạt 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân; Năm 1998 Tòa án nhân dân thị xã Hƣng Yên xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân; Năm 2002 Tòa án nhân dân thị xã Hƣng Yên xử phạt 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Năm 2003 Tòa án nhân dân thị xã Hƣng Yên xử phạt 2 năm 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Năm 2007 Tòa án nhân dân thị xã Hƣng Yên xử phạt 2 năm tù về tội Cố ý gây thƣơng tích; Năm 2009 Công an thành phố Hƣng Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp vặt nhƣng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện thành ngƣời có ích mà lại tiếp tục chơi bời, nghiện chất ma túy thể hiện sự coi thƣờng pháp luật, gây mất trật tự trị an xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm nhƣ quyết định hình phạt đối với bị cáo. Bản thân bị cáo đã nhận thức rõ sử dụng chất ma túy có tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe, đến việc duy trì nói giống, cũng nhƣ làm suy kiệt về kinh tế, đồng thời là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, nhƣng bị cáo vẫn tàng trữ để sử dụng. Chính vì vậy, ngày hôm nay Tòa án nhân dân thành phố Hƣng Yên đƣa vụ án ra xét xử lƣu động nhằm mục đích tuyên truyền, giáo dục rộng rãi trong quần chúng nhân dân, nhất là đối với những ngƣời đã và đang có hành vi tàng trữ để sử dụng ma túy cũng nhƣ hành vi khác có liên quan đến ma túy thấy đƣợc tác hại, hậu quả của ma túy, góp phần vào việc đấu tranh, phòng chống các loại tội phạm về ma túy nói riêng và các loại tội phạm khác nói chung.
Xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Hình phạt bổ sung: Căn cứ vào biên bản xác minh điều kiện kinh tế của bị cáo ( BL 64), thì thấy bị cáo là đối tƣợng nghiện ma túy, không có công việc ổn định, không có tài sản gì, nên HĐXXxét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2006/UBTVQH14;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Ngô Phi Long phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999;
Xử phạt: Bị cáo Ngô Phi Long 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 22/12/2016.
Án phí: bị cáo Ngô Phi Long phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, có mặt các bị cáo. Đã báo cho bị cáo biết đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
C¸c héi thÈm nh©n d©n
ThÈm ph¸n - chñ täa phiªn tßa Nguyễn Thị Hệ Vũ Thị Thùy Đông
Đỗ Quang Lịch
Họ và tên: Trịnh Thị Thùy Linh, sinh năm: 1993
Tên gọi khác: Không.
HKTT: Thôn Phƣơng Thƣợng, xã Phƣơng Chiểu, thành phố Hƣng Yên.
Chỗ ở: phòng số 3, nhà số 8 Bãi Sậy, Hiến Nam, thành phố Hƣng Yên.
Trình độ văn hóa: 9/12.
Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông: Trịnh Văn Trọng, sinh năm: 1965, nghề nghiệp: Làm ruộng.
Con bà: Nguyễn Thị Cách, sinh năm 1968, nghề nghiệp: Làm ruộng.
Đều trú tại : Lƣơng Điền, Hồng Châu, thành phố Hƣng Yên
Chồng Nguyễn Văn Hoàng, sinh năm 1992. Hiện đang chấp hành án tại trại giam Thanh Xuân Tổng cục VIII- Bộ Công an.
Bị cáo có 01 con sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Chƣa.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2016. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hƣng Yên.
NỘi DUNG VỤ ÁN
Khoảng 15 giờ 15 phút chiều ngày 07/6/2016 Trần Viết Hoàn, sinh năm 1991 ở số 142 Trƣng Trắc, phƣờng Minh Khai, thành phố Hƣng Yên dùng điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đen, có viền màu xanh, lắp số thuê 01214133950 gọi đến số thuê bao 01685950125 của Trịnh Thị Thùy Linh, sinh năm 1993 ở phòng số 3, nhà số 8 Bãi Sậy, Hiến Nam, thành phố Hƣng Yên để nhờ Linh mua hộ 1.000.000 đồng ma túy đá. Linh nghĩ mua 800.000 đồng ma túy rồi bán cho Hoàn 1.000.000đ Linh sẽ đƣợc lãi 200.000 đồng nên đồng ý. Sau đó Linh đi taxi ra khu vực cổng Bệnh viện Y học cổ truyền Hƣng Yên trên đƣờng Hải Thƣợng Lãn Ông, phƣờng An Tảo, thành phố Hƣng Yên tìm mua ma túy đá. Tại đây Linh gặp một ngƣời thanh niên khoảng gần 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ liền hỏi “Anh có lấy đâu được hàng lấy hộ em 800.000 đồng”. Ngƣời thanh niên hiểu ý Linh hỏi mua ma túy đá, nên trả lời “có”, Linh lấy đƣa 800.000 đồng đƣa cho ngƣời thanh niên, ngƣời thanh niên cầm tiền bỏ đi, khoảng 10 phút thì quay lại đƣa cho Linh một vỏ bao thuốc lá Vinataba màu vàng, Linh kiểm tra bên trong thấy có 02 (hai) túi nylon nhỏ màu trắng miệng hai túi đều có viền màu đỏ bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, vì đã từng sử dụng ma túy nên Linh biết đó là ma túy đá. Linh cầm số ma túy trên đi bộ về phòng trọ rồi dùng điện thoại di động Nokia, màu đen, lƣng màu xanh có số thuê bao 01685950125 gọi đến số thuê bao 01214133950 của Hoàn hẹn ra khu vực chùa Chuông gần đƣờng Văn Miếu đợi Linh giao ma túy. Hoàn rủ chị Hà Thị Liễu, sinh năm 1997 ở Lƣơng Điền, Hồng Châu, thành phố Hƣng Yên đi cùng, nhƣng không nói cho chị Liễu biết là mình đi mua ma túy đá. Khoảng 10 phút sau Linh cầm vỏ bao thuốc lá bên trong có chứa 02 (hai) gói ma túy đi ra đầu đƣờng Văn Miếu cạnh chùa Chuông thì thấy anh Hoàn và chị Liễu đang đứng đợi ở trƣớc cửa số nhà 112 Văn Miếu, Hiến Nam, thành phố Hƣng Yên. Gặp Hoàn, Linh đƣa cho anh Hoàn 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba bên trong có 02 gói nilon ma túy, Hoàn mở ra thấy có 02 túi ma túy đá liền đóng lại cầm trên tay, rồi đƣa trả Linh số tiền 500.000 đồng và nói “Cứ cầm trước đi, có người mang đang mang tiền ra rồi” cùng lúc đó Tổ công tác của Công an thành phố Hƣng Yên phát hiện lập biên bản phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng rồi đƣa tất cả về trụ sở làm việc. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trịnh Thị Thùy Linh tại phòng số 3, nhà số 8 Bãi Sậy, Hiến Nam, thành phố Hƣng Yên không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Vật chứng thu giữ gồm:
- Thu của Trịnh Thị Thùy Linh số tiền 500.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, lƣng màu xanh đã qua sử dụng, có số thuê bao 01685950125.
- Thu của Trần Viết Hoàn 01 (một) vỏ bao thuốc lá Vinataba màu vàng bên trong có 02 gói nhỏ màu trắng, miệng có viền màu đỏ, đều có kích thƣớc 2,5x2,5cm, bên đều có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đen, có viền màu xanh, lƣng không có ốp, có lắp 02 số thuê bao là 01214133950 và 0986568677.
Tại bản Kết luận giám định số 2480/C54 ngày 04/7/2016 Viện Khoa học hình sự - Tổng cục cảnh sát kết luận: Tinh thể màu trắng trong 02 túi nilon đều có thành phần Methamphetamine, tổng trọng lƣợng 0,145 gam. Hoàn lại 0,060 gam mẫu và các vỏ bao gói sau giám định.
Quá trình điều tra Trịnh Thị Thùy Linh đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ đã nêu trên.
NHẬN XÉT
- Về tố tụng:
+Thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung và áp dụng pháp luật:
+ Lêi khai nhËn téi cña bÞ c¸o Trịnh Thị Thùy Linh t¹i cơ quan điều tra hoµn toµn phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang thu giữ niêm phong vật chứng (7 - 9) phù hợp với bản kết luận giám định ( BL 14 - 15); phù hợp với biên bản kiểm tra tại lịch sử cuộc gọi điện thoại của Trần Viết Hoàn và Trịnh Thị Thùy Linh, thể hiện rõ là Hoàn và Linh có liên hệ điện thoại cho nhau để mua bán ma túy ( BL 33 - 34); phù hợp với lêi khai cña ngƣêi cã nghÜa vô liªn quan anh Trần Viết Hoàn (BL 64 - 72) lµ ngƣêi mua ma tuý cña bÞ c¸o Trịnh Thị Thùy Linh vµ chị Hà Thị Liễu là ngƣêi chøng kiÕn trùc tiÕp viÖc bÞ c¸o Trịnh Thị Thùy Linh đã b¸n ma tuý cho Trần Viết Hoàn ( BL 75 - 77); phù hợp lời khai của bà Phạm Thị Toán là những ngƣời chứng kiến việc bắt và thu giữ gói ma túy mà bị cáo Trịnh Thị Thùy Linh vừa bán cho Trần Viết Hoàn và thu giữ ma túy và tiền cùng điện thoại của bị cáo Linh và Hoàn.
- Do ®ã ®· cã ®ñ c¨n cø kÕt luËn: Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 07/6/2016 tại trƣớc cửa nhà 112 đƣờng Văn Miếu, phƣờng Hiến Nam, TP Hƣng Yên, Trịnh Thị Thùy Linh đã có hành vi bán trái phép 0,145 gam ma túy tổng hợp (ma túy đá) cho Trần Viết Hoàn nhằm mục đích để kiếm lời.
- Nên ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n thành phố Hƣng Yên ®· truy tè ra trƣớc Toà án nhân dân Thành phố Hƣng Yên để xét xử bị cáo Trịnh Thị Thùy Linh về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự, lµ ®óng ngƣêi, ®óng téi, ®óng ph¸p luËt, kh«ng oan sai.
- Tình tiết giảm nhẹ tr¸ch nhiÖm h×nh sù cho bÞ c¸o: BÞ c¸o ®· thµnh khÈn khai b¸o, nªn ®ƣîc ¸p dông ®iÓm p kho¶n 1 ®iÒu 46 - BLHS.
-Tình tiết tăng nặng: Không
Áp dụng pháp luật: Áp dụng khoản 1 ®iÒu 194; điểm p khoản 1 điều 46; ®iÓm a, c kho¶n 1 ®iÒu 41 – BLHS; ®iÓm a, c kho¶n 2 vµ 3 ®iÒu 76 – BLTTHS.
Hình phạt: từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù.
Hình phat bổ sung: Kh«ng ¸p dông h×nh ph¹t bæ sung ®èi víi c¸c bÞ c¸o.
- VÒ vËt chøng:
+ TÞch thu cho tiªu hñy gồm: 01 ( Một) phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định của C54 – Bộ công an số 2480/C54 (TT2) bên trong có: 0,060gam mẫu vật có thành phần Methamphetamine và các vỏ bao gói.
+ Tịch thu cho phát mại để sung công quỹ nhà nƣớc: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel mà đen, có viền màu xanh, lƣng không có ốp, có lắp 02 số thuê bao là 01214133950 và 0986568677 đã thu của Trần Viết Hoàn và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, lƣng màu xanh đã qua sử dụng, có số thuê bao là 01685950125 thu của Trịnh Thị Thùy Linh.
+ TÞch thu sung công quỹ nhà nƣớc 500.000®, lµ sè tiÒn do bÞ c¸o Linh b¸n ma tuý cho Trần Viết Hoàn mà có ( Hiện có tại tài khoản của chi cục thi hành án dân sự thành phố Hƣng Yên, tỉnh Hƣng Yên)
Buéc bÞ c¸o Trịnh Thị Thùy Linh ph¶i chÞu 200.000® tiÒn ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.
- VÒ quyÒn kh¸ng c¸o: BÞ c¸o và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngƣời báo cáo
Đỗ Quang Lịch
- Căn cứ các Điều 36, 166, 167 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 58 ngày 09 tháng 6 năm 2016 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hƣng Yên về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Điều 194 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ Quyết định khởi tố bị can số 77 ngày 09 tháng 6 năm 2016 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hƣng Yên đối với Trịnh Thị Thùy Linh về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Điều 194 của Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:
Khoảng 15 giờ 15 phút chiều ngày 07/6/2016 Trần Viết Hoàn, sinh năm 1991 ở số 142 Trƣng Trắc, phƣờng Minh Khai, thành phố Hƣng Yên dùng điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đen, có viền màu xanh, lắp số thuê 01214133950 gọi đến số thuê bao 01685950125 của Trịnh Thị Thùy Linh, sinh năm 1993 ở phòng số 3, nhà số 8 Bãi Sậy, Hiến Nam, thành phố Hƣng Yên để nhờ Linh mua hộ 1.000.000 đồng ma túy đá. Linh nghĩ mua 800.000 đồng ma túy rồi bán cho Hoàn 1.000.000đ Linh sẽ đƣợc lãi 200.000 đồng nên đồng ý. Sau đó Linh đi taxi ra khu vực cổng Bệnh viện Y học cổ truyền Hƣng Yên trên đƣờng Hải Thƣợng Lãn Ông, phƣờng An Tảo, thành phố Hƣng Yên tìm mua ma túy đá. Tại đây Linh gặp một ngƣời thanh niên khoảng gần 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ liền hỏi “Anh có lấy đâu được hàng lấy hộ em 800.000 đồng”. Ngƣời thanh niên hiểu ý Linh hỏi mua ma túy đá, nên trả lời “có”, Linh lấy đƣa 800.000 đồng đƣa cho ngƣời thanh niên, ngƣời thanh niên cầm tiền bỏ đi, khoảng 10 phút thì quay lại đƣa cho Linh một vỏ bao thuốc lá Vinataba màu vàng, Linh kiểm tra bên trong thấy có 02 (hai) túi nylon nhỏ màu trắng miệng hai túi đều có viền màu đỏ bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, vì đã từng sử dụng ma túy nên Linh biết đó là ma túy đá. Linh cầm số ma túy trên đi bộ về phòng trọ rồi dùng điện thoại di động Nokia, màu đen, lƣng màu xanh có số thuê bao 01685950125 gọi đến số thuê bao 01214133950 của Hoàn hẹn ra khu vực chùa Chuông gần đƣờng Văn Miếu đợi Linh giao ma túy. Hoàn rủ chị Hà Thị Liễu, sinh năm 1997 ở Lƣơng Điền, Hồng Châu, thành phố Hƣng Yên đi cùng, nhƣng không nói cho chị Liễu biết là mình đi mua ma túy đá. Khoảng 10 phút sau Linh cầm vỏ bao thuốc lá bên trong có chứa 02 (hai) gói ma túy đi ra đầu đƣờng Văn Miếu cạnh chùa Chuông thì thấy anh Hoàn và chị Liễu đang đứng đợi ở trƣớc cửa số nhà 112 Văn Miếu, Hiến Nam, thành phố Hƣng Yên. Gặp Hoàn, Linh đƣa cho anh Hoàn 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba bên trong có 02 gói nilon ma túy, Hoàn mở ra thấy có 02 túi ma túy đá liền đóng lại cầm trên tay, rồi đƣa trả Linh số tiền 500.000 đồng và nói “Cứ cầm trước đi, có người mang đang mang tiền ra rồi” cùng lúc đó Tổ công tác của Công an thành phố Hƣng Yên phát hiện lập biên bản phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng rồi đƣa tất cả về trụ sở làm việc. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trịnh Thị Thùy Linh tại phòng số 3, nhà số 8 Bãi Sậy, Hiến Nam, thành phố Hƣng Yên không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì (Bút lục số 07-08, 44-45, 50-63).
Vật chứng thu giữ gồm:
- Thu của Trịnh Thị Thùy Linh số tiền 500.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, lƣng màu xanh đã qua sử dụng, có số thuê bao 01685950125.
- Thu của Trần Viết Hoàn 01 (một) vỏ bao thuốc lá Vinataba màu vàng bên trong có 02 gói nhỏ màu trắng, miệng có viền màu đỏ, đều có kích thƣớc 2,5x2,5cm, bên đều có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đen, có viền màu xanh, lƣng không có ốp, có lắp 02 số thêu bao là 01214133950 và 0986568677.
Tại bản Kết luận giám định số 2480/C54 ngày 04/7/2016 Viện Khoa học hình sự - Tổng cục cảnh sát kết luận: Tinh thể màu trắng trong 02 túi nilon đều có thành phần Methamphetamine, tổng trọng lƣợng 0,145 gam. Hoàn lại 0,060 gam mẫu và các vỏ bao gói sau giám định (Bút lục số 15).
Quá trình điều tra Trịnh Thị Thùy Linh đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ đã nêu trên (Bút lục số 50 - 63)
Căn cứ vào các chứng cứ nêu trên đã có đủ cơ sở:
KẾT LUẬN
Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 07/6/2016 tại trƣớc cửa nhà 112 đƣờng Văn Miếu, phƣờng Hiến Nam, TP Hƣng Yên, Trịnh Thị Thùy Linh đã có hành vi bán trái phép 0,145 gam ma túy tổng hợp (ma túy đá) cho Trần Viết Hoàn nhằm mục đích để kiếm lời.
Đối với Trần Viết Hoàn đã có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý có trọng lƣợng 0,145 gam ma túy tổng hợp, Công an thành phố Hƣng Yên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với nguồn gốc số ma túy đá Linh khai nhận mua của ngƣời đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ, nên không đủ căn cứ xác minh làm rõ.
Lý lịch bị can nhƣ sau:
Họ và tên: Trịnh Thị Thùy Linh, sinh năm: 1993
Tên gọi khác: Không.
HKTT: thôn Phƣơng Thƣợng, xã Phƣơng Chiểu, thành phố Hƣng Yên.
Chỗ ở: phòng số 3, nhà số 8 Bãi Sậy, Hiến Nam, thành phố Hƣng Yên.
Quốc tịch: Việt Nam.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không
Trình độ văn hóa: 9/12.
Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông: Trịnh Văn Trọng, sinh năm: 1965, nghề nghiệp: Làm ruộng.
Con bà: Nguyễn Thị Cách, sinh năm 1968, nghề nghiệp: Làm ruộng.
Đều trú tại : Lƣơng Điền, Hồng Châu, thành phố Hƣng Yên
Chồng Nguyễn Văn Hoàng, sinh năm 1992. Hiện đang chấp hành án tại trại giam Thanh Xuân Tổng cục VIII- Bộ Công an.
Bị can có 01 con sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Chƣa.
Bị can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2016. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hƣng Yên.
Hành vi nhƣ đã nêu trên của bị can Trịnh Thị Thùy Linh, đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.
Điều 194 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.”
Từ những căn cứ nêu trên:
QUYẾT ĐỊNH
Truy tố ra trƣớc Toà án nhân dân Thành phố Hƣng Yên để xét xử bị can Trịnh Thị Thùy Linh về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Kèm theo bản cáo trạng là hồ sơ vụ án gồm
Bút lục, đƣợc đánh số thứ tự từ 01 đến
. Quyết định chuyển vật chứng; Danh sách, địa chỉ những ngƣời cần triệu tập đến phiên toà.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh – phòng 1 (Để báo cáo); - Cơ quan CSĐT- Công an TP Hưng Yên; - Hồ sơ vụ án; - Hồ sơ kiểm sát; - Bị can; - Lưu. Họ và tên bị cáo: Nguyễn Văn Tiệp. HKTT: Phƣơng Trung, xã Phƣơng Chiểu, TP. Hƣng Yên, tỉnh Hƣng Yên. Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Nguyễn Văn Thuấn, sinh năm 1966. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Con bà: Vũ Thị Ngát, sinh năm 1969. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Vợ: Nguyễn Thị Yến, sinh năm 1996. Nghề nghiệp: Công nhân. Con: Bị cáo có 01 con sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: Chƣa giam – Công an tỉnh Hƣng Yên. NỘI DUNG VỤ ÁN thƣờng trú: Thôn Phƣơng Thông, xã Phƣơng Chiểu, thành phố Hƣng Yên điều khiển xe mô tô Hon da, màu xanh, biển số 89B1 – 13480 từ nhà lên khu đô thị Phố Hiến thuộc thôn Nhân Dục, phƣờng Hiến Nam, thành phố Hƣng Yên mục đích gặp mẹ đẻ là bà Vũ Thị Ngát, sinh năm 1969 đang trông công trình xây dựng để hỏi về việc vợ Tiệp là chị Nguyễn Thị Yến, sinh năm 1995 hiện đang ở đâu. Bà Ngát trả lời là không biết thì Tiệp đã chửi bà Ngát. Bà Ngát bảo Tiệp là về nhà để nói chuyện. Tiệp đi về nhà còn bà Ngát nhờ ông Lê Tiến Đức chở bà và con trai bà là cháu Nguyễn Quốc Anh, sinh năm 2005 về nhà. Về đến cổng nhà, Tiệp tiếp tục hỏi bà Ngát vợ Tiệp đang ở đâu và chửi bới bà Ngát vì Tiệp nghĩ rằng bà Ngát giấu thông tin về vợ Tiệp (do vợ Tiệp đã bỏ nhà đi cách đó vài ngày). Bà Ngát trả lời là không biết vợ Tiệp đang ở đâu, Tiệp đã chạy ra ngoài đƣờng, đến bàn bán thịt lợn của chị Trần Thị Láng lấy 01 con dao nhọn loại dao bầu, tự rèn, dài khoảng 30 cm, chuôi dao bằng gỗ của bà Láng. Tiệp chạy về nhà mình dùng dao khua khoắng đe dọa bà Ngát. Khi thấy Tiệp cầm dao bà Ngát, ông Đức và cháu Quốc Anh đi sang khu đất trống của nhà bà Vũ Thị Thừ để tránh Tiệp thì bị Tiệp đuổi theo. Ông Đức đã khuyên Tiệp bỏ dao xuống nhƣng không đƣợc nên đã đi vòng ra phía sau để giữ Tiệp lại nhƣng Tiệp vẫn tiếp tục cầm dao tiến về phía bà Ngát, bà Ngát lùi lại để trách nhƣng do bị vấp vào gốc cây nhãn nên bị ngã xuống đất. Tiệp lao đến tay phải cầm dao đâm một nhát vào vùng đùi phía sau chân trái của bà Ngát. Sau đó ông Đức và ông Lê Văn Khang là hàng xóm của bà Ngát vào can ngăn, giằng dao của Tiệp vứt xuống đất thì Tiệp bỏ đi. Hậu quả bà Ngát bị rách da, chảy máu nhiều phải đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hƣng Yên. y Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hƣng Yên giám định thƣơng tích đối với bà Vũ Thị Ngát kết luận: Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên tại thời điểm giám định là 17%. Cơ chế hình thành vết thƣơng là do vật sắc gây nên. Hiện tại do tổn thƣơng còn nhiều diễn biến phức tạp có thể làm thay đổi tỷ lệ tổn hại sức khỏe của bệnh nhân. Đề nghị cơ quan trƣng cầu cho giám định bổ sung khi thƣơng tích đã ổn định. Phòng giám định pháp y Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hƣng Yên giám định bổ sung về thƣơng tích đối với bà Vũ Thị Ngát kết luận: Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên tại thời điểm giám định là 24%. thuốc men chữa bệnh cho bà. thấy. nhƣng Tiệp cho rằng hành vi dùng dao đâm bà Ngát là do vô ý, Tiệp không cố ý dùng dao gây thƣơng tích cho bà Ngát. Yên ®· truy tè ra trƣíc TAND thành phố Hƣng Yên ®Ó xÐt xö bị cáo Nguyễn Văn Tiệp vÕ téi “Cè ý g©y thƣ¬ng tÝch” theo kho¶n 2 ®iÕu 104 - BLHS NHẬN XÐt - Về tố tụng: Thực hiện đúng và đầy đủ - Về nội dung: ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Láng và những ngƣời làm chứng ông Lê Văn Khang; ông Lê Tiến Đức; cháu Nguyễn Quốc Anh là những ngƣời trực tiếp chứng kiến việc bị cáo Tiệp dùng dao đâm vào đùi bên trái của bà Vũ Thị Ngát là mẹ đẻ của bị cáo Tiệp và phù hợp với lời khai của anh Nguyễn Văn Hải và chị Nguyễn thị Dung là anh rể và là em gái của bị cáo Tiệp. Phù hợp với c¸c tµi liÖu chøng cø khác cã trong hå s¬ vô ¸n ®ã lµ: Biªn b¶n kh¸m nghiÖm hiÖn trƣêng, s¬ ®å hiÖn trƣêng, bản ảnh hiện trƣờng; bệnh án của bà Vũ Thị Ngát; b¶n kÕt luËn gi¸m ®Þnh cña tæ chøc gi¸m ®Þnh ph¸p y tØnh Hƣng Yªn và bản ảnh giám định thƣơng tích đối với các bị hại, cùng các tài liệu chứng cứ khác có liên quan trong hồ sơ vụ án. Thị Thừ ở thôn Phƣơng Thông, xã Phƣơng Chiểu, thành phố Hƣng Yên, Nguyễn Văn Tiệp đã có hành vi dùng dao nhọn loại dao bầu, tự rèn, dài khoảng 30 cm, chuôi dao bằng gỗ ( là hung khí nguy hiểm) đâm gây thƣơng tích cho mẹ đẻ là bà Vũ Thị Ngát. Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên tại thời điểm giám định đối với bà Ngát là 24% ( Hai mươi bốn phần trăm). Thị Ngát với tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 24% nên đã phạm vào điểm a, đ khoản 1 Điều 104 BLHS. Do vậy hành vi của Tiệp thuộc trƣờng hợp quy định tại khoản 2 Điều 104 BLHS. Nên ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n thành phố Hƣng Yên đã truy tè bÞ c¸o Nguyễn Văn Tiệp vÕ téi “cè ý g©y thƣ¬ng tích” theo kho¶n 2 §iÒu 104 - BLHS lµ hoµn toµn chÝnh x¸c ®óng ngƣêi, ®óng téi, ®óng ph¸p luËt. + Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Văn Tiệp không có tình tiết tăng nặng. Ngát xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo đƣợc hƣëng t×nh tiÕt gi¶m nhÑ t¹i ®iÓm p kho¶n 1 và khoản 2 ®iÒu 46 - BLHS. */ - Tuyªn bè: BÞ c¸o Nguyễn Văn Tiệp ph¹m téi “Cè ý g©y thƣ¬ng tÝch”. BLTTHS. từ ngày bị bắt tạm giam từ ngày 20/5/2016. bà, chị Trần thị Láng không yêu cầu bị cáo Tiệp phải bồi thƣờng con dao, nên không đặt ra xem xét giải quyết. đƣợc, nên không đạt ra xem xét giải quyết. */- VÒ ¸n phÝ: Buéc bÞ c¸o Nguyễn Văn Tiệp ph¶i chÞu 200.000® ¸n phÝ HSST. quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bà Trần Thị Láng có mặt tại phiên tòa đƣợc quyÕn kh¸ng c¸o b¶n ¸n trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n. | KT. VIỆN TRƢỞNG Phiên tòa ngày 27/9/2016 Vụ án: Cố ý gây thƣơng tích CT: Lịch; TK: Việt; HTND: Hệ, Đức; KSV: Là Sinh năm 1991. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/5/2016. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 18/5/2016 Nguyễn Văn Tiệp, sinh năm 1991, hộ khẩu Bản kết luận pháp y về thƣơng tích số 43/TgT ngày 20/5/2016 của Phòng giám định pháp Bản Kết luận giám định pháp y bổ sung về thƣơng tích số 65/TgT ngày 14/7/2016 của Về trách nhiệm bồi thƣờng dân sự bà Ngát không yêu cầu Tiệp phải bồi thƣờng tiền Về vật chứng của vụ án là con dao, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã truy tìm nhƣng không Quá trình điều tra, Nguyễn Văn Tiệp đã khai nhận hành vi phạm tội nhƣ đã nêu ở trên T¹i b¶n c¸o tr¹ng sè 51/ Q§ - VKS - HS ngµy 08/9/2016 cña VKSND thành phố Hƣng Lêi khai nhận téi cña bÞ c¸o t¹i cơ quan điều tra hoàn toàn với lời khai của ngƣời bị hại là bà Ngát; Nên ®· cã ®ñ c¬ së kÕt luËn: Khoảng 07 giờ ngày 18/5/2016, tại khu vực vƣờn nhà bà Vũ Do bị cáo Tiệp dùng dao (là hung khí nguy hiểm) gây thƣơng tích cho mẹ đẻ là bà Vũ + T×nh tiÕt gi¶m nhÑ: Bị cáo Nguyễn Văn Tiệp đã thành khẩn khai báo và ngƣời bị hại là bà */ - ¸p dông: Kho¶n 2 §iÒu 104, điểm p khoản 1 và khoản 2 điều 46, điều 33 - BLHS; điều 99 – - Xö ph¹t: BÞ c¸o Nguyễn Văn Tiệp từ 02 năm 03 tháng đến 02 n¨m 06 tháng tï. Thêi h¹n tï tÝnh */- VÒ tr¸ch nhiÖm d©n sù: Do bà Ngát không yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng thiệt hại cho */- Xö lý vËt chøng: Con dao là vật chứng của vụ án đã tiến hành truy tìm nhƣng không thu hồi */- VÒ quyÒn kh¸ng c¸o: BÞ c¸o Nguyễn Văn Tiệp, ngƣời bị hại bà Vũ Thị Ngát và ngƣời có Ngƣời báo cáo Đỗ Quang Lịch |