vanban.org

Bản án 20/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình Tuyên án 10/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Phạm Văn H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 23/10/2017. Phạt bổ sung bị cáo Phạm Văn H 7.000.000đ (bẩy triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn H ( Mua bán ma túy) - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Phạm Văn H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIẾN XƢƠNG
TỈNH THÁI BÌNH
Bản án số: 20 /2018/HSST
Ngày: 10/4/2018

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƢƠNG - TỈNH THÁI BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

* Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh

* Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Duyên và bà Nguyễn Thị Mây.

* Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Mƣời - Kiểm sát viên.

Ngày 10/4/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xƣơng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 12/2018/HSST ngày 23/02/2018 đối với:

- Bị cáo: Phạm Văn H sinh năm 1994; Nơi cƣ trú: thôn V, xã V, Thành phố T, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: không biết chữ; con ông Phạm Văn B và bà Bùi Thị P; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/10/2017 đến ngày 26/10/2017 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Kiến Xƣơng, có mặt.

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Đỗ Văn T sinh năm 1977 (vắng mặt)

Trú tại: thôn 5 , xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.

+ Anh Đỗ Xuân Q sinh năm 1975 (vắng mặt)

Trú tại: thôn 8, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.

- Ngƣời làm chứng:

+ Anh Nguyễn Duy T, sinh năm 1979 (vắng mặt)

Trú tại: thôn 7, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 23/10/2017, Đỗ Văn T sinh năm 1977 ở thôn 5, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình đến nhà Đỗ Xuân Q sinh năm 1975 ở thôn 8, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình để rủ Q đi mua ma túy về sử dụng. T bảo Q đi theo T rồi T rút điện thoại gọi cho Phạm Văn H hỏi mua ma túy và hẹn H mang xuống Vũ Ninh. T và Q đi nhờ xe sang Vũ Ninh đến khu vực trƣớc cửa nhà ông Nguyễn Văn T - địa chỉ: thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình thì gặp H. T đƣa cho H 200.000 đồng, H cầm tiền rồi đƣa cho T 01 gói ma túy. Ngay sau đó, Q đƣa cho H 500.000 đồng và nói “Để cho túi năm”, H cầm tiền rồi đƣa cho Q 01 túi ma túy. Ngay lúc đó, Công an huyện Kiến Xƣơng phát hiện bắt quả tang thu giữ tại túi quần đang mặc phía trƣớc bên phải của T 01 gói ma túy đƣợc gói bằng giấy tráng kim màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng đục dạng cục, T khai là Hê rô in vừa mua của H; thu giữ tại túi quần đang mặc phía trƣớc bên phải của Q 01 túi ni lon bên trong chứa tinh thể rắn trong suốt, Q khai là ma túy đá vừa mua của H; thu giữ tại túi quần đang mặc phía trƣớc bên trái của H 700.000 đồng, H khai đấy là số tiền vừa bán ma túy cho T và Q; thu tại túi quần đang mặc phía sau bên phải của H 01 ví giả màu đen, trong ví có 6.290.000 đồng; kiểm tra xe mô tô biển kiểm soát 17B5-302.85 thu tại giỏ để đồ tại yếm bên trái 01 lọ nhựa hình con vịt màu cam bên trong có 10 gói nhỏ đều đƣợc gói bằng giấy tráng kim màu trắng trong có chứa chất bột màu trắng đục dạng cục và 01 túi ni lon màu trắng bên trong chứa tinh thể rắn trong suốt, H khai toàn bộ số ma túy trên H mua của ngƣời đàn ông không biết tên, địa chỉ giá 900.000 đồng, mục đích bán cho các đối tƣợng nghiện ma túy để kiếm lời nhƣng chƣa kịp bán hết thì bị bắt. Tại Kết luận giám định số 413/KLGĐ-PC54 ngày 23/10/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình đã kết luận:

- Mẫu M1 (01 gói thu giữa của Đỗ Văn T) là ma túy loại Heroine (Hêrôin), có trọng lƣợng 0,0624 gam (không phẩy không nghìn sáu trăm hai mƣơi tƣ gam).

- Mẫu M2 (01 túi thu giữa của Đỗ Xuân Q) là ma túy loại Methamphetamine, có trọng lƣợng 0,2622 gam (không phẩy hai nghìn sáu trăm hai mƣơi hai gam).

- Mẫu M3 (10 gói giấy tráng kim và 01 túi ni lon thu giữa của Phạm Văn H) là ma túy loại Heroine (Hêrôin), có trọng lƣợng 0,7363 gam (không phẩy bẩy nghìn ba trăm sáu mƣơi ba gam) và Methamphetamine, có trọng lƣợng 0,3129 gam (không phẩy ba nghìn một trăm hai mƣơi chín gam).

Bản Cáo trạng số 18/CT-VKSKX ngày 23/02/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và đề nghị:

- Áp dụng điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo mức án từ 07 năm đến 08 năm tù đồng thời áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vơi mức phạt từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu toàn bộ số ma túy mà Công an huyện Kiến Xƣơng đã thu giữ của Phạm Văn H, Đỗ Xuân Q và Đỗ Văn T để tiêu hủy; tịch thu của Phạm Văn H 01 lọ nhựa hình con vịt màu cam để tiêu hủy; tịch thu của Phạm Văn H 700.000 đồng + 01 điện thoại di động nhãn hiệu HTC màu đen, kèm theo 01 sim số 0978371194 và của Đỗ Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel màu đen kèm theo 01 sim số 0904061596 để sung công quỹ nhà nƣớc.

Bị cáo Phạm Văn H không ý kiến gì về luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Trên cơ sở nôi dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Phạm Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhƣ đã nêu trên.

Hành vi phạm tội của bị cáo còn đƣợc chứng minh bằng các chứng cứ sau đây:

- Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang do Công an huyện Kiến Xƣơng lập hồi 14 giờ 05 phút, ngày 23/10/2017;

- Biên bản quản lý và niêm phong vật chứng do Công an huyện Kiến Xƣơng lập hồi 15 giờ 10 phút, 15 giờ 20 phút và 15 giờ 40 phút ngày 23/10/2017;

- Biên bản quản lý và kiểm tra phƣơng tiện do Công an huyện Kiến Xƣơng lập hồi 14 giờ 30 phút, ngày 23/10/2017;

- Biên bản quản lý và kiểm tra điện thoại do Công an huyện Kiến Xƣơng lập hồi 15 giờ 55 phút và 16 giờ 05 phút, ngày 23/10/2017;

- Kết luận giám định số 413/KLGĐ-PC54 ngày 23/10/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình

Bằng những chứng cứ trên, có đủ sơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ, ngày 23/10/2017, tại khu vực trƣớc cửa ông Nguyễn Văn T - địa chỉ: thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình, bị cáo Phạm Văn H đã 2 lần bán ma túy cho ngƣời khác, cụ thể: bán cho anh Đỗ Văn T sinh năm 1977 ở thôn 5, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình 01 gói Heroine (Hêrôin), có trọng lƣợng 0,0624 gam (không phẩy không nghìn sáu trăm hai mƣơi tƣ gam), thu đƣợc 200.000 đồng ; ngay sau đó H bán cho anh Đỗ Xuân Q sinh năm 1975 ở thôn 8, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình 01 túi Methamphetamine, có trọng lƣợng 0,2622 gam (không phẩy hai nghìn sáu trăm hai mƣơi hai gam), thu đƣợc 500.000 đồng, ngoài ra H còn tàng trữ 10 gói Heroine (Hêrôin), có trọng lƣợng 0,7363 gam (không phẩy bẩy nghìn ba trăm sáu mƣơi ba gam) và 01 túi Methamphetamine, có trọng lƣợng 0,3129 gam (không phẩy ba nghìn một trăm hai mƣơi chín gam) với mục đích để bán.

Hành vi trên của bị cáo đã phạm vào tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.

Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009: Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, quy định:

"1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a, Có tổ chức;

b, Phạm tội nhiều lần;

…”

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức đƣợc việc sử dụng ma tuý là mối hiểm hoạ của loài ngƣời, huỷ hoại nòi giống, một tệ nạn xã hội gây nhức nhối trong cộng đồng, là con đƣờng ngắn nhất dẫn đến căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác nhƣng bị cáo vẫn bán ma túy cho ngƣời khác, làm gia tăng tội phạm ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quy định của nhà nƣớc về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hƣởng xấu đến trật tự trị an ở địa phƣơng, gây bất bình trong quần chúng nhân dân và làm công tác đấu tranh đối với các loại tội phạm về ma túy thêm phức tạp.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 nhƣng có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 là ngƣời phạm tội thành khẩn khai báo.

Bị cáo là ngƣời có nhân thân xấu, năm 2012 đã bị áp dụng biện pháp giáo dục bắt buộc, nhƣng sau khi chấp hành xong, bị cáo không chịu rèn luyện, tu dƣỡng mà còn lao vào con đƣờng phạm tội, điều đó thể hiện ý thức coi thƣờng pháp luật của bị cáo.

Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo với mức án thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng…”. Hội đồng xét xử thấy bị cáo bất chấp pháp luật, bán ma túy nhằm mục đích thu lợi nhuận, bị cáo vẫn còn tài sản nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Công an huyện Kiến Xƣơng đã thu giữ của bị cáo Phạm Văn H 10 gói Heroine (Hêrôin), có trọng lƣợng 0,7363 gam (không phẩy bẩy nghìn ba trăm sáu mƣơi ba gam) sau khi giám định hoàn lại là 0,7099 gam (không phẩy bẩy nghìn không trăm chín mƣơi chín gam)và 01 túi Methamphetamine, có trọng lƣợng 0,3129 gam (không phẩy ba nghìn một trăm hai mƣơi chín gam) sau khi giám định hoàn lại là 0,2848 gam (không phẩy hai nghìn tám trăm bốn mƣơi tám gam); của Đỗ Văn T sinh năm 1977 ở thôn 5, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình 01 gói Heroine (Hêrôin), có trọng lƣợng 0,0624 gam (không phẩy không nghìn sáu trăm hai mƣơi tƣ gam) sau khi giám định hoàn lại là 0,0475 gam (không phẩy không nghìn bốn trăm bẩy mƣơi lăm gam); của Đỗ Xuân Q 01 túi Methamphetamine, có trọng lƣợng 0,2622 gam (không phẩy hai nghìn sáu trăm hai mƣơi hai gam) sau khi giám định hoàn lại là 0,2373 gam (không phẩy hai nghìn ba trăm bẩy mƣơi lăm gam), đều đƣợc niêm phong trong phong bì – đây là vật cấm tàng trữ, cấm lƣu hànhvà 01 lọ nhựa hình con vịt thu của bị cáo Phạm Văn H là vật chứng không có giá trị , màu cam nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 , sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Số tiền 700.000 đồng thu của bị cáo Phạm Văn H là tiền do phạm tội mà có, 01 điện thoại di động nhãn hiệu HTC màu đen kèm theo 01 sim số 0978371194 thu của bị cáo Phạm Văn H và 01 điện toại di động nhãn hiệu Mastel màu đen kèm theo 01 sim số 0904061596 thu của Đỗ Văn T là phƣơng tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nƣớc theo quy định tại các điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 , sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Về án phí: Bị cáo Phạm Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; các điểm a, b,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 ; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố:

Bị cáo Phạm Văn H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

2. Hình phạt:

Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 23/10/2017. Phạt bổ sung bị cáo Phạm Văn H 7.000.000đ (bẩy triệu đồng).

3. Xử lý vật chứng:

Tịch thu toàn bộ số ma túy mà Công an huyện Kiến Xƣơng đã thu giữ của Phạm Văn H, Đỗ Xuân Q và Đỗ Văn T sau khi giám định hoàn lại đƣợc niêm phong trong 3 phong bì niêm phong số 413/ KLGĐ ngày 13/10/2017 cua Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái bình ghi ký hiệu M1,M2, M3 để tiêu hủy; tịch thu của Phạm Văn H 01 lọ nhựa hình con vịt màu cam để tiêu hủy; tịch thu của Phạm Văn H 700.000 đồng + 01 điện thoại di động nhãn hiệu HTC màu đen kèm theo 01 sim số 0978371194 và của Đỗ Văn T 01 điện toại di động nhãn hiệu Mastel màu đen kèm theo 01 sim số 0904061596 để sung công quỹ nhà nƣớc. (Vật chứng đang đƣợc quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xƣơng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/02/2018 và Biên lai thu tiền số 002266 ngày 26/02/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xƣơng)

4. Án phí:

Bị cáo Phạm Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/4/2018, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày đƣợc tống đạt hợp lệ bản án./.

Cỡ chữ