vanban.org

Bản án 20/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 10/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Lã Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: bị cáo Lã Xuân T 24 (Hai bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2018. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lã xuân T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lã Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2018/ HS-ST
Ngày 10 /5/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG - TỈNH THÁI NGUYÊN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Quang Nhanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Nguyễn Tuấn Trung

2. Bà: Dương Thị Oanh

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2018, tại Hội Trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Lương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 14/2018/HSST, ngày 30 tháng 3 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2018/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 4 năm 2018, đối với bị cáo:

Lã Xuân T, sinh ngày 06/08/1965. Tên gọi khác không.

ĐKHKTT: phố G, TT. G, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa 10/10; con ông: Lã Trường D, sinh năm 1942; con bà Đàm Thị H, sinh năm 1944; gia đình có 5 anh chị em bị cáo là con thứ nhất; vợ Bùi Bích N, sinh năm 1974; con: Có 02 con, lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 2000. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/01/2018 đến nay, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện P (Có mặt tại phiên tòa).

- Người chứng kiến: anh Trần Mạnh D – Sinh năm 1973, trú tại: phố G, thị trấn G, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoảng 16 giờ ngày 08/01/2018, tổ công tác Công an huyện P phối hợp với Công an thị trấn G tuần tra kiểm soát tại khu vực phố Giang Tiên, thị trấn G, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, phát hiện bắt quả tang đối tượng: Lã Xuân T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong lòng bàn tay trái của T 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01 viên nén màu hồng và 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong gói có chứa chất bột màu trắng; tạm giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu đen. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định.

Cùng ngày cân xác định chất bột màu trắng thu giữ của T có trọng lượng là 0,418 gam và viên nén màu hồng có trọng lượng 0,072 gam.

Tại bản Kết luận giám định số 258/KL- PC54 ngày 15 tháng 01 năm 2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của T là chất ma túy loại heroine có trọng lượng (Khối lượng) là 0,418 gam; viên nén màu hồng là chất ma túy loại methamphetamine có trọng lượng là 0,072 gam.

Tại cơ quan điều tra T khai: Khoảng hơn 15 giờ ngày 08/01/ 2018, Trần Anh P (Sinh năm 1978 trú tại xóm Ta, xã S, thành phố Thái Nguyên; là người quen cùng uống Methadone với T ở trung tâm 06 Phú Lương) gọi điện cho T hẹn gặp T và đưa cho T gói ma túy mang về nhà T để cùng sử dụng, sau đó P đi mua xilanh để sử dụng ma túy. T cầm gói ma túy về đến trước cửa nhà T thì bị bắt quả tang như nêu ở trên.

Tại bản cáo trạng số 16/CT- VKSPL ngày 28/3/2018, Viện Kiểm sát nhân huyện P truy tố bị cáo Lã Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i, khoản 1, Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P trình bày lời luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lã Xuân T phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm i, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, 2 Điều 51 BLHS năm 2015, xử phạt Lã Xuân T từ 24 đến 30 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cở sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét về hành vi của bị cáo: bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, do vậy có đủ căn cứ để xác định: hồi 16 giờ ngày 08/01/2018, tại khu vực phố G, thị trấn G, huyện P. Lã Xuân T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,418 gam ma túy loại heroine và 0,072 gam ma túy lại methamphetamine mục đích sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang.

Do đó, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo Lã Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy... thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a)…….

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Ma túy là nguyên nhân dẫn đến căn bệnh thế kỷ và các loại tội phạm khác, bị cáo nhận thức rõ về điều đó nhưng vẫn cố tàng trữ để về sử dụng cho bản thân. Việc đưa bị cáo ra truy tố và xét xử là cần thiết để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: bị cáo tuy chưa có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng nghiện ma túy dẫn đến phạm tội. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS ngoài ra thân nhân gia đình bị cáo được tặng thưởng Huân chương nên bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự nào. Tuy nhiên bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thấy trước được sự trừng phạt nghiêm khắc của pháp luật, nhưng vẫn cố tình vi phạm bất chấp hậu quả nên cần buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian, nhằm giúp bị cáo cai nghiệm ma túy và phấn đấu cải tạo thành người lương thiện.

Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

Bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng, nên Hội đồng xét xử miễn không áp dụng hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.

Trong vụ án này còn có Trần Anh P theo bị cáo T khai là người cung cấp ma túy cho bị cáo để cùng nhau sử dụng. Quá trình điều tra, P không thừa nhận việc cung cấp ma túy cho T nên chưa đủ căn cứ để xử lý, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P tiếp tục điều tra xử lý sau.

Vật chứng vụ án: chiếc điện thoại hiệu OPPO A57, vỏ màu đen đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên cần được trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án. Vật chứng là ma túy cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 2 Điều 106 BLTT hình sự.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS 2015; khoản 2 Điều 106; 135 và 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí tòa án:

Tuyên bố: bị cáo Lã Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

1. Xử phạt: bị cáo Lã Xuân T 24 (Hai bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2018.

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Vật chứng: tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu A2, A3 (Biên bản giao nhận số 20 ngày 02/5/2018 giữa Công an và Thi hành án dân sự huyện P). Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại hiệu OPPO A57, vỏ màu đen đã qua sử dụng nhưng cần tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

3. Án phí: buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ