vanban.org

Bản án 20/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 27/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố các bị cáo Triệu văn N và Lý Thị H phạm tội “Hủy hoại

[2]. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "N - H phạm tội hủy hoại rừng - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố các bị cáo Triệu văn N và Lý Thị H phạm tội “Hủy hoại
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PÁC NẶM
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2018/HS - ST
Ngày 27/11/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thanh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lƣờng Văn Xiên

Ông Hoàng Đức Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Pác

Nặm, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tham

gia phiên tòa: Ông Cà Ngọc Tân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 11 năm 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân

huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2018/TLST-HS, ngày 09 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Triệu Văn N - Tên gọi khác: Không

Sinh ngày 29 tháng 10 năm 1989 tại huyện P, tỉnh Bắc Kạn.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã A, huyện P, tỉnh Bắc

Kạn.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Lớp 9/12; Đảng, đoàn thể: Đảng

viên Đảng cộng sản Việt Nam (Hiện đang bị đình chỉ sinh hoạt đảng); dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Triệu Văn N và bà Lý Thị C; Vợ Lý Thị H: Có 02 con. Con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/8/2018 đến

nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Lý Thị H - Tên gọi khác: Không

Sinh ngày 26 tháng 10 năm 1991 tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã A, huyện P, tỉnh Bắc

Kạn.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Dao; giới tính:

Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Lý Văn T và bà Lý Thị G; Chồng là Triệu Văn N: Có 02 con. Con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/9/2018 đến

nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Ngƣời bào chữa cho bị cáo Triệu Văn N và Lý Thị H: Ông Đinh Xuân D

- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn. Có mặt

- Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bắc Kạn

Người đại diện theo pháp luật: Ông Vi Duy T - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P. Vắng mặt

Người đại diện theo ủy quyền: Ông La Đức D - Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện P. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Triệu Chòi N, sinh năm 1990 - Trú tại: Thôn N, xã A, huyện P, tỉnh

Bắc Kạn. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 10 tháng 5 năm 2018 Công an huyện Pác Nặm nhận được công văn

chuyển tin báo số 62/CTB-KL ngày 09 tháng 5 năm 2018 của Hạt Kiểm lâm huyện Pác Nặm với nội dung có nhiều hộ dân phát phá rừng trái phép tại xã A , huyện P, tỉnh Bắc Kạn.

Trên kết quả điều tra xác định được như sau:

Tại Lô 2, Khoảnh 3A, Tiểu khu 31của bản đồ quy hoạch ba loại rừng

thuộc thửa đất số 106, tờ bản đồ số 02 của bản đồ địa chính đất lâm nghiệm xã An Thắng tại thôn Thôn N, xã A, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Triệu Văn N và Lý Thị H trú Thôn N, xã A, huyện P, tỉnh Bắc Kạn đã có hành vi hủy hoại rừng với diện tích là 5.390 m2 (Năm nghìn ba trăm chín mươi mét vuông) rừng sản xuất có trạng thái là rừng tự nhiên phục hồi, số cây gỗ bị chặt hạ có chu vi (vòng dây) nhỏ nhất từ 24 cm trở lên là 126 cây = 38,430 m3 (Ba mươi tám phẩy bốn trăm ba mươi mét khối gỗ).

Tại cơ quan điều tra Triệu Văn N và Lý Thị H khai nhận.

Triệu Văn N và vợ Lý Thị H được nhà nước giao cho quản lý sử dụng

nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 11.126 m2 đất rừng sản xuất tại thửa đất số 106, tờ bản đồ số 02 tại thôn Thôn N, xã A, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Đầu tháng 4/2018 (không nhớ ngày cụ thể) do có mục đích phát rừng để trồng cây keo, Nhậy đã bàn bạc với vợ là Lý Thị H phát một phần khu đất rừng trên để trồng cây keo, thì H đồng ý. Sau khi bàn bạc thống nhất Triệu Văn N và Lý Thị H dùng dao quắm lên khu rừng đã thồng nhất và tiến hành phát cây bụi rậm, dây leo và cây nhỏ được 05 ngày, còn cây gỗ to để lại. Số cây to còn lại sau đó Nhậy một mình dùng máy cưa lốc mượn của Triệu Chòi N trú tại thôn M , xã A, huyện Pcắt hạ hết và để chờ khô rồi đốt vệ sinh rừng.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 14/5/2018 của Cơ quan Cảnh

sát điều tra Công an huyện Pác Nặm xác định: Hiện trường vụ huỷ hoại rừng tại tại Lô 2, Khoảnh 3A, Tiểu khu 31của bản đồ quy hoạch ba loại rừng được Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn phê duyệt tại quyết định số 757/2007/QĐ-UBND ngày 21/5/2007 thuộc thửa đất 106, tờ bản đồ số 02 bản đồ giao đất đất lâm nghiệp tại thôn Thôn N, xã A, huyện P, tỉnh Bắc Kạn là rừng sản xuất có trạng thái rừng tự nhiên phục hồi. Vị trí thửa đất phía Đông giáp với thửa đất số 103 của Sào Văn P và thửa đất số 112 của hộ gia đình Lý Văn Q thuộc khu vực rừng Đ; Phía Tây giáp thửa đất số 116 của ông Sào Văn X, thửa đất 106 của gia đình Triệu Văn N thuộc khu vực rừng V; Phía Nam giáp với thửa đất 112 của gia đình Triệu Văn T; Phía Bắc giáp thửa đất số 94 của gia đình Lý Văn S. Trên bề mặt diện tích rừng bị chặt hạ phát hiện nhiều cây thân gỗ với nhiều nhóm gỗ khác nhau đã bị cắt đổ ngổn ngang về nhiều hướng, các vết cắt này đều sắc gọn có để lại phần gốc nhô lên trên mặt đất có nhiều kích cỡ khác nhau; Tiến hành đo diện tích rừng bị hủy hoại, sử dụng máy đo vệ tinh GPS78 CSX, hệ toạ độ Vn – 2000, máy đo do Hạt kiểm lâm huyện Pác Nặm cung cấp xác định diện tích rừng bị chặt hạ là 5.390m2 (Năm nghìn ba trăm chín mươi mét vuông); Số cây bị chặt hạ có chu vi (vòng dây) nhỏ nhất từ 24 cm trở lên là 126 cây = 38,430 m3 (Ba mươi tám phẩy bốn trăm ba mươi mét khối gỗ).

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 03/KL-HĐĐGTSVV ngày 14/6/2018

của Hội đồng định giá tài sản huyện Pác Nặm kết luận: 38,430 m3 (Ba mươi tám phẩy bốn trăm ba mươi) mét khối gỗ từ nhóm V đến nhóm VIII có tổng giá trị là: 29.302.875 đồng (Hai mươi chín triệu, ba trăm linh hai nghìn, tám trăm bảy năm đồng).

Trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo Triệu Văn N đã tự nguyện nộp

một khoản tiền là 3.000.000đ (Ba triệu đồng) vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Pác Nặm nhằm khắc phục một phần thiệt hại.

Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKSPN ngày 08/11/2018, Viện kiểm sát nhân

dân huyện Pác Nặm truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm để xét xử Triệu Văn Nhậy và Lý Thị H về hành vi "Hủy hoại rừng" theo điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng

như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm giữ nguyên quan điểm

truy tố như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Triệu Văn N và Lý Thị H phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243 BLHS 2015; điểm b, s khoản 1, khoản 2

Điều 51; Điều 17: Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Triệu Văn Nhậy từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo có đơn xin miễn án phí do vậy đề nghị miễn án phí cho bị cáo.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243 BLHS 2015; điểm b, i, s khoản 1,

khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lý Thị H từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo có đơn xin miễn án phí do vậy đề nghị miễn án phí cho bị cáo.

Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo nhận thấy việc xét xử các bị cáo

về tội “Hủy hoại rừng” là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn nhận thức về pháp luật còn hạn chế, bị cáo H là đồng phạm giữ vai trò thứ yếu, bị cáo N đã tự nguyện nộp tiền để bồi thường khắc phục hậu quả, bị cáo được nguyên đơn dân sự xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo Triệu Văn N được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, cho bị cáo Lý Thị H được hưởng 04 tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ

vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án

đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong

quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội

của mình, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có cơ sở kết luận:

Đầu tháng 4/2018 (không nhớ ngày cụ thể) do có mục đích phát rừng để

trồng cây keo, N đã bàn bạc với vợ là Lý Thị H phát một phần khu đất rừng trên để trồng cây keo, thì Hđồng ý. Sau khi bàn bạc thống nhất bị can Triệu Văn N và Lý Thị H dùng dao quắm lên khu rừng đã thồng nhất và tiến hành phát cây bụi rậm, dây leo và cây nhỏ được 05 ngày, còn cây gỗ to để lại. Số cây to còn lại sau đó Nhậy một mình dùng máy cưa lốc mượn của Triệu Chòi N trú tại thôn M, xã A, huyện P cắt hạ hết và để chờ khô rồi đốt vệ sinh rừng.

Hậu quả diện tích rừng bị chặt hạ là 5.390m2 (Năm nghìn ba trăm chín

mươi mét vuông); Số cây bị chặt hạ có chu vi (vòng dây) nhỏ nhất từ 24 cm trở lên là 126 cây = 38,430 m3 (Ba mươi tám phẩy bốn trăm ba mươi mét khối gỗ) từ nhóm V đến nhóm VIII có tổng giá trị là: 29.302.875 đồng (Hai mươi chín triệu, ba trăm linh hai nghìn, tám trăm bảy năm đồng).

Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại rừng” với tình

tiết định khung là hủy hoại rừng sản xuất có diện tích từ 5.000m2 đến dưới 10.000m2

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về

khai thác bà bảo bệ rừng, xâm hại đến sự ổn định và bền vững của môi trường sinh thái. Khi thực hiện hành vi các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Điều luật có nội dung:

1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng

thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…………………….…

b) Rừng sản xuất có diện tích từ 5.000 mét vuông (m2) đến dưới 10.000

mét vuông (m2);

……………………..…

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến

100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

.Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Đối với bị cáo Triệu Văn N: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần

đầu. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo đã tự nguyện khắc phục một phần hậu quả, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, không được đi học hết phổ thông, nhận thức về pháp luật rất hạn chế, người được nguyên đơn dân sự ủy quyền có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự nên bị cáo được hưởng các tỉnh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Đối với bị cáo Lý Thị H: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần

đầu. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo đã tự nguyện khắc phục một phần hậu quả, bị cáo chỉ được phát cây bụi và dây leo do vậy xác định bị cáo là người có vai trò thứ yếu trong vụ án nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, nhận thức về pháp luật rất hạn chế, người được nguyên đơn dân sự ủy quyền có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự nên bị cáo được hưởng các tỉnh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

- Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào tính chất và mức độ

nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, các quy định của pháp luật. HĐXX xét thấy, không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà vẫn đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo tính giáo dục cải tạo và phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả

điều tra, xác minh cho thấy gia đình bị cáo thuộc đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của

nguyên đơn dân sự vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và có yêu cầu các bị cáo phải liên đới bồi thường, khắc phục hậu quả với số tiền là 3.000.000đ, các bị cáo thống nhất dùng số tiền 3.000.000đ mà bị cáo N đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Pác Nặm để bồi thường, khắc phục hậu quả theo yêu cầu, tại phiên tòa các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận về việc bồi thường. Xét thấy việc thỏa thuận không trái pháp luật và hoàn toàn do hai bên tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo Triệu Văn N và Lý Thị H đã tự

nguyện nộp số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng) vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Pác Nặm nhằm khắc phục một phần thiệt hại, cần tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án.

. Về vật chứng của vụ án:

- 126 cây gỗ = 38,430 m3 (Ba mươi tám phẩy bốn trăm ba mươi mét

khối gỗ). Ngày 01/10/2018 Cơ quan điều tra Công an huyện Pác Nặm đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức tịch thu bán đấu giá sung công quỹ Nhà nước.

- 02 (Một) con dao quắm, trong đó một con dao có thân dao dài 35cm, bản

dao rộng 4,5cm, chuôi dao dài 08cm; Một con dao có cán bằng gỗ có tổng chiều dài 51cm, phần thân dao dài 32,5cm, bản dao rộng 04cm, cán dao bằng gỗ dài 18,5cm, cả hai con dao đã qua sử dụng không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với chiếc mấy cưa lốc nhãn hiệu HUSQVARNA-365 mà Triệu Văn

Nhậy mượn của Triệu Chòi Nần, hiện đang bị tạm giữ làm tang vật trong vụ án khác, do vậy không xem xét xử lý.

. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát: Đại diện

Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ. Mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.

Đánh giá việc người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình

tiết giảm nhẹ của các bị cáo, để áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo. Hội đồng xét xử nhận định đề nghị của người bào chữa là có cơ sở, do vậy được xem xét.

Xem xét, đánh giá hành vi của những người liên quan.

Đối với ông Triệu Chòi N là người cho bị can Triệu Văn N mượn máy cưa

lốc để cắt hạ cây, nhưng khi mượn N không nói cho Nần biết mục đích mượn máy cưa để chặt hạ cây nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự là có cơ sở.

Về án phí: Căn cứ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả điều tra,

xác minh cho thấy gia đình bị cáo thuộc đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các bị cáo có đơn xin Hội đồng xét xử miễn án phí. Do vậy cần miễn án phí sơ thẩm cho các bị cáo.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố các bị cáo Triệu văn N và Lý Thị H phạm tội “Hủy hoại

rừng”

[2]. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều

51, Điều 17, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Triệu Văn N 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án

treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

[3] Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều

51, Điều 17; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Lý Thị H 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời

gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Triệu Văn N và Lý Thị H cho Ủy ban nhân dân xã An

Thắng, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được cho hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa

vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Công nhận sự thỏa thuận giữa các bị cáo với người được nguyên đơn dân sự ủy

quyền.

Áp dụng Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Triệu Văn Nvà Lý Thị H phải liên đới bồi thường cho nguyên đơn dân

sự là UBND huyện Pác Nặm với số tiền thỏa thuận là 3.000.000đ (Ba triệu đồng), được trừ vào số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng) tại biên lai thu tiền số 00858, ngày 05/11/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.

Tạm giữ số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng) tại biên lai thu tiền số 00858, ngày

05/11/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Bắc Kạn để đảm bảo thi hành án.

Việc thi hành án được thực hiện theo Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015

“Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số

tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các

bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015”

[5]. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2

Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:

- 02 (Hai) con dao quắm, trong đó một con dao có cán dao thân dao dài

35cm, bản dao rộng 4,5cm, chuôi dao dài 08cm; Một con dao có cán bằng gỗ có tổng chiều dài 51cm, phần thân dao dài 32,5cm, bản dao rộng 4 cm, cán dao bằng gỗ dài 18,5cm, cả hai con dao đã qua sử dụng.

(Số lượng, tình trạng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/11/2018

giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn và Chi cục thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Bắc Kạn).

[6]. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Triệu

Văn Nvà Lý Thị H

[7]. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, có

quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhân:

Cỡ chữ