vanban.org

Bản án 20/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội Tuyên án 30/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Kim Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Kim Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ ĐỨC
T PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2018/HS-ST
Ngày 30-5-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, T PHỐ HÀ NỘI

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Son.

Ông Trần Xuân Tộ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc Bích là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, T phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, T phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, T phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2018/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2018/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Kim Văn T sinh năm 1994 tại Mỹ Đức - Hà Nội; nơi cư trú: Thôn PH, xã BX, huyện Mỹ Đức, T phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kim Trọng T và bà Bùi Thị L; vợ con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị bắt giữ ngày 13/01/2018, C tạm giam từ ngày 19/01/2018 đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Trương Văn C sinh năm 1997. Cư trú tại: Thôn BX, xã BX, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

+ Bà Trần Thị C sinh năm 1977. Cư trú tại: Thôn BX, xã BX, huyện Mỹ Đức, T phố Hà Nội. Vắng mặt.

+ Ông Đỗ Văn H sinh năm 1958. Cư trú tại: Thôn AT, xã TV, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

+ Bà Bùi Thị Lan sinh năm 1976. Cư trú tại: Thôn PH, xã BX, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 20 giờ ngày 13/01/2018, Kim Văn T đang ở cửa hàng của gia đình thì Trương Văn C gọi điện thoại từ số 0964421483 đăng ký chủ thuê bao là bà Trần Thị C đến số điện thoại 0967821268 của T hỏi mua 6.000.000 đồng ma túy tổng hợp. T đồng ý và mang ma túy đi theo đường 419 đến địa phận PL - Mỹ Đức rồi dừng xe, đặt số ma túy xuống đất, gọi điện cho C đến nhận. Ngay lúc đó, vào 22 giờ 30 phút cùng ngày, Kim Văn T đã bị Công an bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ:

- 03 túi ni lông nhỏ màu trắng trong đó có 01 túi nhỏ ni lông chứa 04 viên nén màu xanh, 02 túi nhỏ ni lông bên trong chứa tinh thể màu trắng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 màu trắng bên trong có số thuê bao 0967821268 của Kim Văn T.

- 01 xe máy Wave x màu trắng biển kiểm soát 29X1-433.78.

Ngày 14/01/2018, Công an huyện Mỹ Đức thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đỏ bên trong có sim số thuê bao 0964421483 của Trương Văn C, đồng thời ra quyết định trưng cầu giám định số 36 đối với ma túy trên.

Tại kết luận giám định số 720/KLGĐ-PC54 ngày 22/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an T phố Hà Nội kết luận: “04 viên nén màu xanh bên trong 01 túi ni lông ký hiệu mẫu số 01 đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng: 1,400 gam. Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni lông ký hiệu mẫu số 02 là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,250 gam. Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni lông ký hiệu mẫu số 03 là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 0,430 gam”.

Ngày 13/01/2018, Công an huyện Mỹ Đức mở niêm phong điện thoại thu giữ của T và C xác định: Số điện thoại 0967821268 T gọi và số điện thoại 0964421483 của C thời gian gọi đi, gọi đến phù hợp với kết quả điều tra.

Đối với xe máy Honda Wave, màu sơn trắng đen bạc, biển kiểm soát 29X1-433.87; dung tích xi lanh 97; số máy: HC12E5715426, số khung: RLHHC1212DY715326 đăng ký chủ xe: Đỗ Văn H sinh năm 1958 ở thôn AT, xã Thượng Vực, huyện Chương Mỹ, T phố Hà Nội: Do ngày 30/6/2017 ông H đã bán xe cho bà Bùi Thị L là mẹ của bị cáo. Tối ngày 13/01/2018 Kim Văn T mang ma túy đi bán nhưng bà Lan không biết; xe không nằm trong dữ liệu vật chứng nên ngày 06/02/2018, Công an huyện Mỹ Đức đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

- Về trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát:

Cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 18/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Kim Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 01 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng khoản 01 Điều 251; điểm s khoản 01 và khoản 02 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Kim Văn T từ 42 đến 48 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

+ Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Về lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ăn năn hối cải, T khẩn khai báo và xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức án khoan hồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác. Hội đồng xét xử có cơ sở vững chắc kết luận: Ngày 13/01/2018, Kim Văn T đã có hành vi đem bán cho Trương Văn C một lượng ma túy với 03 chủng loại: 1,400 gam MDMA, 0,250 gam Methamphetamine và 0,433 gam Ketamine với giá 6.000.000 đồng mục đích để kiếm lời. Hành vi của bị cáo Kim Văn T đã cấu T tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 01 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm hại tới C sách độc quyền quản lý về chất ma túy của Nhà nước mà còn xâm phạm đến trật tự, trị an tại địa phương nên cần xử lý nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Song cũng xét, bị cáo có nhân thân tốt; phạm tội lần đầu; sau khi bị bắt đã T khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đồng thời bị cáo có ông nội: Kim Trọng H là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến cao quý nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 01 và khoản 02 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Mặt khác, xét thấy tại gia đình bị cáo là người con hiếu thảo, ngoan ngoãn; việc phạm tội là nhất thời không làm chủ được bản thân do cả nể, bị bạn bè lôi kéo. Bản thân bị cáo tuổi đời còn trẻ, không nghiện ma túy, rất ăn năn hối cải lại có ý thức hoàn lương mãnh liệt. Vì vậy, cần cho bị cáo hưởng mức hình phạt tù phù hợp để thể hiện C sách khoan hồng của Nhà nước và đảm bảo nguyên tắc nhân đạo của pháp luật. Tuy nhiên, để phục vụ đắc lực cho công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy ở địa phương thì cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- 01 phong bì mẫu vật của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội có chữ ký của giám định viên và bị cáo được đánh ký hiệu mẫu số 1, mẫu số 2, mẫu số 3, bên trong có 03 túi ni lông nhỏ màu trắng: 01 túi chứa 04 viên nén màu xanh, 02 túi chứa tinh thể màu trắng đều là ma túy vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 màu trắng bên trong có số thuê bao 0967821268 của Kim Văn T là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đỏ bên trong có số thuê bao 0964421483 của Trương Văn C sử dụng để liên lạc mua ma túy của T cần tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước.

Về các vấn đề khác của vụ án:

Đối với Trương Văn C đã gọi điện thoại mua ma túy nhưng chưa kịp thực hiện hành vi thì T bị bắt nên Công an huyện Mỹ Đức không đề cập xử lý nhưng cần thông báo để địa phương và gia đình theo dõi, giáo dục là phù hợp.

Về đối tượng bán ma túy cho T: Do không xác định được địa chỉ, lý lịch cụ thể nên Công an huyện Mỹ Đức không có cơ sở chứng minh.

Đối với Trần Thị C đứng tên thuê bao di động 0964421483 nhưng không sử dụng mà bà đã cho Trương Văn C. Ngày 13/01/2018, C sử dụng liên lạc mua ma túy của T nhưng bà C không biết nên không liên đới trong vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Kim Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 01 Điều 251; điểm s khoản 01 và khoản 02 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: Kim Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt giữ là ngày 13/01/2018.

Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì mẫu vật của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội có chữ ký của giám định viên và bị cáo bên trong chứa ma túy các loại MDMA, Methamphetamine và Ketamine.

- Tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 màu trắng bên trong có số thuê bao 0967821268 của Kim Văn T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đỏ bên trong có số thuê bao 0964421483 của Trương Văn C.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/5/2018 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức và Công an huyện Mỹ Đức)

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Kim Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Bùi Thị Lan; kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án còn lại.

(Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình)

Cỡ chữ