- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lâm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2018/HS-ST Ngày 27-4-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Vân
2. Ông Mai Trần Phúc
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Nhiên - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 04 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2018/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
Lâm Văn T, sinh năm 1994; tại tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú hiện nay: ấp M, xã B, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt nam; con ông Lâm Văn D và bà Nguyễn Thị T; vợ con chưa có; tiền án ,tiền sự: Chưa có; bị tạm giữ ngày 11/12/2017; bị tạm giam ngày 14/12/2017; bị cáo có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị T sinh năm 1956; địa chỉ: ấp S, xã Đ, huyện T, tỉnh Tây Ninh
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 18 giờ ngày 10/12/2017, Công an huyện T bắt quả tang Lâm Văn T bán ma túy( dạng ma túy đá) cho Phan Văn C và Trần Hoàng N tại tồ 11, khu phố 1, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Tang vật thu giữ một gói ma tuý đá, có trọng lượng là 0,1196 gam và một số vật chứng khác.
Quá trình điều tra còn chứng minh được ngoài lần bắt quả tang T còn bán ma túy cho C tổng cộng 4 lần, cụ thể như sau:
Lần 1: Cách ngày bắt quả tang khoảng một tháng, T bán cho C một gói ma túy với giá 200.000 đồng, tại khu vực cầu R thuộc xã B, huyện T.
Lần 2: Cách lần 1 khoảng một tuần, T bán cho C một gói ma túy với giá 200.000 đồng tại khu vực cầu R thuộc xã B, huyện T.
Lần 3: Cách lần bắt quả tang khoàng một tuần, T bán cho C một gói ma túy với giá 300.000 đồng tại nhà C
Lần 4: Cách lần bắt quả tang khoảng 3 đến 4 ngày, T bán cho C một gói ma túy với giá 300.000 đồng tại nhà C
Tại bản kết luận giám định số 223 ngày 13/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu tinh thể rắng màu trắng bên trong một bịch ny lon màu trắng ( ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy, là loại Methamphetamine, trọng lượng 0,1196 gam.
Tại bản cáo trạng số 16/QĐ/KSĐT ngày 22 tháng 03 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Lâm Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Lâm Văn T từ 07 đến 08 năm tù.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo thể hiện: Tại phiên Tòa sơ thẩm bị cáo Lâm Văn T đã khai nhận: Vào lúc 18 giờ ngày 10/12/2017, bị cáo trực tiếp bán ma túy (dạng ma túy đá) cho Phan Văn C và Trần Hoàng N tại tổ 11, khu phố 1, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Ngoài ra trước lần bị bắt quả tang bị cáo còn bán ma túy cho Phan Văn C 4 lần, xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lâm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015
Hành vi nêu trên của bị cáo xâm phạm chính sách độc quyền quản lý nhà Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng đến sức khỏe con người, vì mục đích vụ lợi bị cáo trực tiếp nhiều lần mua ma túy đem bán cho người khác lấy tiền tiêu xài, đây là tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hiện nay, tình hình mua bán chất ma túy ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp, nên cần thiết xử phạt mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời góp phần phòng chống tội phạm.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, tự thú là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Không có
Bị cáo khai đã mua ma túy của Châu Văn H nhưng không đủ chứng cứ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh không xử lý, đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Còn người đàn ông tên T khi nào xác định được sẽ làm rõ xử lý sau.
Đối với Phan Văn C và Trần Hoàng N, Cơ quan cảnh sát điều tra đã Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy:
- 01 (Một) bì thư được niêm phong ghi chữ vụ số 233, có dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự,- Công an tỉnh Tây Ninh và chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M và Võ Quốc T.
Đối với: 01 (Một) điện thoại di động hiệu NOKIA, màu xám không có bàn phím là điện thoại bị cáo dùng vào việc phạm tội. Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với: 01 ( Một) giấy cầm đồ tên T không liên quan đến vụ án cần tuyên trả lại cho bị cáo T.
Đối với: Số tiền 1.350.000 đồng cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo T trong đó có 450.000 đồng là tài sản bị cáo dùng vào việc thực hiện tội phạm mà có. Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước. Còn lại số tiền 900.000 đồng là của bà Trần Thị T đưa cho bị cáo T đi chuộc điện thoại cho bà T không liên quan đến việc phạm tội cần tuyên trả lại cho bà T.
Xét thấy bị cáo Lâm Văn T không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lâm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Lâm Văn T 08 (Tám) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt ngày 11/12/2017.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy:
- 01 (Một) bì thư được niêm phong ghi chữ vụ số 233, có dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Tây Ninh và chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M và Võ Quốc T.
Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu NOKIA, màu xám không có bàn phím của bị cáo T; số tiền 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
Tuyên trả cho bà Trần Thị T số tiền 900.000 đồng (Chín tăm nghìn đồng).
Tuyên trả cho bị cáo Lâm Văn T: 01 (Một) giấy cầm đồ tên T.
Án phí : Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh,
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND H. T; - THADS H. T; - Bị cáo; Ngươi đại diện hợp pháp cho bị hại; - CA huyện T; - THA hình sự; - PV 27; - Sở tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Lưu : Tập án , H/s; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Nguyễn Thị Minh Bình |