- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đức T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đức T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật TTHS; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG TỈNH HẢI DƯƠNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2018/HS-ST Ngày 16 - 5 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thiết.
Các Hội thẩm nhân dân :
Ông Vũ Đăng Đông và ông Vũ Đình Mạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông An Văn Khoái - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang tham gia phiên tòa:
Bà Dương Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2018, tại Nhà văn hóa K, Thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2018/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2018/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:
Vũ Đức T - sinh năm 1996 tại xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương.
Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đức H và bà Đỗ Thị C; Vợ: Chưa có. Tiền án: Không; tiền sự: Ngày 21/6/2016, bị Công an huyện Bình Giang xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền về hành vi “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Trường chưa chấp hành quyết định.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 02/4/2018 đến ngày 03/4/2018 tạm giam tại Trại tạm giam Kim Chi- Công an tỉnh Hải Dương – Có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến:
Anh Dương Công T - sinh năm 1976
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh HD.
Anh Đào Văn Đ - sinh năm 1991
Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương - Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 02/4/2018, Vũ Đức T đi bộ trên đường tỉnh lộ 392 thuộc địa phận thôn M, xã B, huyện B, tỉnh Hải Dương gặp một người thanh niên không biết tên, tuổi, địa chỉ. Tại đây người thanh niên này hỏi T “có mua ma tý đá không”, T hỏi “bao nhiêu”, người thanh niên nói “ 300.000đ/01 gói”, T đồng ý. Sau khi mua được gói ma túy đá trên, T cho vào trong bao thuốc lá CravenA của mình rồi cất giấu vào túi quần phía trước bên phải mục đích mang về nhà sử dụng. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, trên đường đi về nhà, T rẽ vào quán T thuộc thôn M, xã B để uống nước thì bị lực lượng Công an huyện B phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong người T 01 gói nilon kích thước 1,5 x 02cm bên trong chứa các cục tinh thể mầu trắng, T khai nhận đó là ma túy đá mua về để sử dụng; 01 vỏ bao thuốc lá CravenA .
Kết luận giám định số 242/KLGĐ- PC54 ngày 05/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn( dạng tinh thể) màu trắng ghi thu của Vũ Đức T gửi đến giám định có trọng lượng 0,233 gam, là loại Methamphetamine. Methamphetamine nằm trong danh mục II, STT 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ. Hoàn lại đối tượng giám định là 0,175 gam Methamphetamine.
Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Đức T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của những người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số 23 ngày 26/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo Vũ Đức T về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Đức T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Vũ Đức T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS 2015: Xử phạt bị cáo Vũ Đức T từ 15 đến 18 tháng tù thời gian tính từ ngày tạm giữ 02/4/2018.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đang bị tạm giam nên không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Tịch thu cho tiêu hủy 0,175 gam Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định và 01 vỏ bao thuốc lá CravenA.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTTQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự . Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Đức T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến, vật chứng thu giữ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 18 giờ 30 phút ngày 02/4/2018, tại quán T thuộc địa phận thôn M, xã B, huyện B, tỉnh Hải Dương, Vũ Đức T có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,233 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý, sử dụng của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an xã hội. Ma túy là loại độc dược gây nghiện, từ việc nghiện ma túy có thể gây nguy hại cho sức khỏe người sử dụng, ảnh hưởng xấu đến nhân cách, đạo đức con người, ảnh hưởng thuần phong mỹ tục, sự phát triển giống nòi và là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn khác trong xã hội. Bản thân bị cáo cũng nhận thức được tác hại của ma túy, nhưng vì mục đích để thỏa mãn bản thân, bị cáo vẫn coi thường pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp nên phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình gây ra. Từ những phân tích nêu trên đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Vũ Đức T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Cáo trạng của VKSND huyện B truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Thời gian gần đây trên địa bàn huyện B xảy ra một số loại tội phạm về ma túy gây nhiều bức xúc trong nhân dân và gây mất trật tự trị an trong xã hội. Vì vậy 3 ngành làm án huyện B xác định là vụ án trọng điểm cần đưa ra xét xử nhanh chóng kịp thời nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, có 01 tiền sự: Ngày 21/6/2016 bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền về hành vi “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Trường chưa chấp hành quyết định.
Về tình tiết tăng nặng: Không. Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa thành khẩn khai báo nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xét thấy bị cáo phạm tội nghiêm trọng nên cần xử phạt tù có thời hạn để cải tạo thành người tốt.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo đang bị tạm giam, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 0,175 gam Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành, tàng trữ và 01 vỏ bao thuốc lá không có giá trị nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015; Điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 Tịch thu cho tiêu hủy.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTTQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đức T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Đức T 15( mười lăm) tháng tù thời gian tính từ ngày tạm giữ 02/4/2018.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015; Điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Tịch thu cho tiêu hủy 0,175 gam Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định và 01 vỏ bao thuốc lá CaravenA.
Các vật chứng trên hiện đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/5/2018 giữa Chi cục THADS và Công an huyện Bình Giang.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật TTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án, lệ phí tòa án buộc bị cáo Vũ Đức T phải nộp 200.000đ án phí HSST.
Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Công an, VKSND, Chi cục THADS H. B; - Cơ quan THAHS CA tỉnh HD; - Trại tạm giam Kim Chi; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Lưu HSVA; | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Nguyễn Thị Thiết |