vanban.org

Bản án 20/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị H - Trần Văn P"
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DI LINH
NH L M ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2018/HNGĐ-ST.
Ngày: 20/7/2018.
V/v: Xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆ NAM

ÒA ÁN NH N D N HUYỆN DI LINH - NH L M ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đới Văn Học.

Các hội thẩm nhân dân:

1) Ông Đào Văn An.

2) Bà Trần Thị Phúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông K’ My Na – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh tham gia phiên tòa: Bà My La – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Xét sử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2018/TLST- HNGĐ ngày 08/01/2018 về việc: “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/6/2018. Giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T; sinh năm 1974. Địa chỉ: Số 122A thôn 2, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Ông Trần Văn P; sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn 2, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Bà T có mặt tại phiên tòa, ông P vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai và lời trình bày tại phiên tòa hôm nay, bà Phạm Thị T trình bày: Bà và ông P tự nguyện kết hôn năm 1996, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Cát Tài, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống không hợp nhau, ông P không chịu khó làm ăn, thường xuyên chơi bời, bài bạc gây nợ nần. Từ năm 2013 đến nay đã sống ly thân. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Thị Trúc V, sinh năm 1997 và Trần Phong V, sinh ngày 08/10/2001. Hiện nay cháu Trúc V đã trưởng thành và hoàn toàn khỏe mạnh nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn bà xin trực tiếp nuôi dư ng cháu Phong V, không yêu cầu ông P phải cấp dư ng nuôi con.

Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung; Tài sản cho vay chung và tài sản nợ chung không có. Khi ly hôn do không yêu cầu giải quyết về tài sản.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Trần Văn P nhưng ông P đều vắng mặt nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận cho bà T được ly hôn ông P. Về con chung, chấp nhận yêu cầu của bà T. Giao con chung tên Trần Phong V, sinh ngày 08/10/2001 cho bà T trực tiếp nuôi dư ng; ông P không phải cấp dư ng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản; bà Thơ chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA ÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu và xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tại phiên tòa hôm nay, ông P là bị đơn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông P tự nguyện kết hôn năm 1996, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Cát Tài, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống không hợp nhau, ông P không chịu khó làm ăn, thường xuyên chơi bời, bài bạc gây nợ nần. Từ năm 2013 đến nay đã sống ly thân. Bà T xác định hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, ông P không đến Tòa lần nào, tại phiên tòa hôm nay cũng không có mặt nên không có ý kiến của ông. Qua xác minh tại địa phương thì giữa bà T và ông P chung sống có mâu thuẫn và đã sống ly thân. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông P đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử cho bà T được ly hôn với ông P là phù hợp.

[3] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Thị Trúc V, sinh năm 1997 và Trần Phong V, sinh ngày 08/10/2001. Hiện nay cháu Trúc V đã trưởng thành và hoàn toàn khỏe mạnh nên không đề cập giải quyết. Khi ly hôn bà T xin trực tiếp nuôi dư ng cháu Phong V, không yêu cầu ông P phải cấp dư ng nuôi con, yêu cầu này của bà T phù hợp với nguyện vọng của con. Xét quyền lợi mọi mặt của con, khả năng nuôi dư ng con của mỗi bên. Căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 và 116 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Giao con chung tên Trần Phong V, sinh ngày 08/10/2001 cho bà T trực tiếp nuôi dư ng. Ông P không phải cấp dư ng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung là phù hợp.

[4] Về tài sản: Theo bà T thì vợ chồng không tài sản chung; tài sản cho vay chung và tài sản nợ chung không có, khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông P lại không có mặt để trình bày ý kiến của mình nên không đề cập giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 144; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bà T phải chịu 300.000đ án phí DSST xin ly hôn là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾ ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 144; Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 56; 81; 82; 83; 84 và 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1) Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị T được ly hôn với ông Trần Văn P.

2) Về con chung: Giao con chung tên Trần Phong V, sinh ngày 08/10/2001 cho bà T trực tiếp nuôi dư ng.

Ông P không phải cấp dư ng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được ngăn cản.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên. Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dư ng nuôi con có thể thay đổi.

3) Về án phí: Bà T chịu 300.000đ án phí DSST xin ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0003181 ngày 08/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh. (Bà T đã nộp đủ án phí).

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ