vanban.org

Bản án 20/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 2 Điều 91 và khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Các Điều 463, 466, 468, 470 và 357 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quố…

Buộc chị Vũ Thị H có nghĩa vụ trả nợ cho Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng VT tổng số tiền là 47.472.169đồng (Bốn mươi bảy triệu bốn trăm bảy mươi hai nghìn một trăm sáu chín đồng) Trong đó số tiền gốc là: 31.210.694đồng (Ba mốt triệu hai trăm mười nghìn sáu trăm chín mươi bốn đồng), s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Công ty tài chính VT- Vũ Thị H"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 2 Điều 91 và khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Các Điều 463, 466, 468, 470 và 357 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quố…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 357 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN LẠC
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2018/DS – ST
Ngày 28 - 9 - 2018
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Tạ Văn Đức

2. Bà Nguyễn Thị Phương Linh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Duẩn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị iang – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2018/TLST – DS ngày 11 tháng 7 năm 2018 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2018/QĐXXST - DS ngày 29 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng VT ( gọi tắt là VPB FC).

Địa chỉ: Đường B, phường X, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lô Bằng - Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hiền T - Trưởng phòng thu hồi nợ pháp lý - Trung tâm thu hồi nợ - Khối quản trị rủi ro - Công ty Tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng VT. (Theo văn bản ủy quyền số: 14/UQ – QTRR.17 ngày 22/3/2017).

Người đại diện theo ủy quyền lại: Chị Lê Thị B sinh năm 1990, (Có mặt).

Địa chỉ: Đường C, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.

(Theo văn bản ủy quyền số: 1006/UQTA – VH.18 ngày 20/5/2018)

Bị đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1980 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Y, xã B, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 4 năm 2018 và các lời khai tiếp theo tại Tòa đại điện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 16/12/2016, chị Vũ Thị H có ký hợp đồng tín dụng số: 20161216-0007663 với Công ty Tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng VT để vay số tiền 31.650.000đồng. Mục đích vay là: Tiêu dùng cá nhân. Hình thức vay: Vay tín chấp và không có tài sản bảo đảm, lãi suất theo thỏa thuận là 4,17%/tháng. Phương thức trả nợ là: Trả chậm trong vòng 22 tháng. Tổng số tiền chị H phải thanh toán cho VPB FC trong vòng 22 tháng bao gồm cả gốc và lãi là 50.045.923đồng, cụ thể: Trong 21 tháng đầu mỗi tháng chị H phải trả số tiền 2.226.000đồng, tháng cuối cùng trả 3.299.923đồng. Kỳ thanh toán vào ngày mùng một hàng tháng, bắt đầu từ ngày 01/2/2017. Sau khi ký hợp đồng tín dụng, chị H đã nhận đủ số tiền vay. Khi đến kỳ trả nợ, chị H thanh toán trả cho VPB C được một lần, với tổng số tiền là 2.226.000đồng, trong đó: Nợ gốc đã trả là: 439.306đồng; nợ lãi đã trả là: 1.786.694đồng. Kể từ ngày 23/01/2017, chị H không trả thêm cho VPB FC bất kỳ một khoản gốc và lãi nào khác. Ngày 15/4/2018, VPB FC khởi kiện, yêu cầu chị H phải trả toàn bộ số tiền gốc và lãi còn nợ, tính đến ngày khởi kiện ngày 15/4/2018 là: 47.819.923đồng. Trong đó: Nợ gốc là: 31.210.694đồng; Nợ lãi là: 16.609.229đồng. Ngoài ra, VPB C còn yêu cầu chị H phải trả số tiền lãi phát sinh của tiền gốc còn lại tính từ ngày VPB C khởi kiện cho đến khi thanh toán hết khoản nợ. Tuy nhiên tính đến ngày 28/9/2018 hợp đồng tín dụng giữa VPB C với chị H vẫn chưa hết hạn. VPB C chỉ yêu cầu chị H phải trả số tiền lãi đến hết ngày 30/9/2018. VPB C không yêu cầu chị H phải trả số tiền lãi còn lại của hai tháng là tháng 10 và tháng 11/2018 theo hợp đồng tín dụng ký kết giữa hai bên. Như vậy, tính đến ngày 28/9/2018 tổng số tiền gốc chị H còn nợ VPB FC 31.210.694đồng; tiền lãi tính đến hết ngày 30/9/2018 là: 16.261.475đồng, tổng cộng cả gốc và lãi là 47.472.169đồng

Do vậy, VPB FC khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, yêu cầu Tòa án buộc chị Vũ Thị H phải trả toàn bộ số tiền cả gốc và lãi là: 47.472.169đồng. Ngoài ra, VPB FC còn yêu cầu Tòa án buộc chị Vũ Thị H phải thanh toán cho VPB FC tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc còn lại theo lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tính từ ngày 29/9/2018 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.

Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của VPB C không đồng ý với yêu cầu xin trả dần tiền gốc và xin được miễn tiền lãi theo quan điểm của bị đơn. Yêu cầu bị đơn phải trả luôn số tiền gốc là 31.210.694đồng; nợ lãi trong hạn là: 16.261.475đồng. Nguyên đơn xin rút yêu cầu về khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc còn lại của hai tháng là tháng 10 và tháng 11/2018, đồng thời đề nghị áp dụng mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

ị đơn chị Thị H v ng m t tại phiên tòa, quá trình giải quyết vụ án chị H trình bày: Về việc ký kết, thực hiện hợp đồng tín dụng như đại diện VPB C trình bày là đúng. Quá trình thực hiện hợp đồng chị mới trả cho nguyên đơn được một kỳ với tổng cộng số tiền là 2.226.000đồng. Trong đó: Nợ gốc đã trả là: 439.306 đồng, nợ lãi đã trả là: 1.786.694đồng như bảng kê của nguyên đơn giao nộp tại Tòa án là đúng. Sau đó, do có khó khăn về kinh tế nên kể từ ngày 23/01/2017 chị không trả thêm cho VPB C bất kỳ một khoản gốc và lãi nào khác.

Nay VPB FC yêu cầu chị phải hoàn trả toàn bộ số tiền vay, tính đến ngày 15/4/2018 là: 47.819.923đồng, trong đó: Nợ gốc là: 31.210.694đồng; Nợ lãi là: 16.609.229đồng. Do hiện nay hoàn cảnh kinh tế của gia đình khó khăn nên chị xin được khất nợ trả dần số tiền gốc mỗi tháng là 2.500.000đồng cho đến khi trả hết nợ và đề nghị miễn cho chị toàn bộ số tiền lãi phát sinh.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa sơ thẩm: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án xác định đúng quan hệ pháp luật, tư cách của người tham gia tố tụng, thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và bảo đảm thời hạn chuẩn bị xét xử cũng như chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu.

Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị giải quyết về án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn chị Vũ Thị H đến lần thứ hai nhưng chị H vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 3 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng VT (VPB C) là Doanh nghiệp hoạt động theo iấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do phòng đăng ký kinh doanh Sở kế hoạch và Đầu tư thành phố thành phố Hồ Chí Minh cấp, được thực hiện các hoạt động trung gian tiền tệ (Kinh doanh ngân hàng, kinh doanh ngoại tệ ) theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngày 16/12/2016 giữa VPB C và chị Vũ Thị H đã ký kết giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 20161216-0007663 về việc VPB C cho chị Vũ Thị H vay số tiền 31.650.000đồng với mục đích tiêu dùng. Do chị H vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên VPB C khởi kiện yêu cầu chị H trả nợ theo thỏa thuận trong giấy vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 16/12/2016. Vì vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp Hợp đồng vay tài sản trong lĩnh vực tín dụng.

Về áp dụng pháp luật giải quyết trong vụ án: Quan hệ vay tài sản giữa nguyên đơn Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng VT với bị đơn chị Vũ Thị H phát sinh trong lĩnh vực hoạt động tín dụng của VPB C từ năm 2016. Do bị đơn vi phạm thỏa thuận trả nợ, đến ngày 15/4 /2018 VPB C khởi kiện đến Tòa án. Vì vậy, pháp luật được áp dụng để giải quyết trong vụ án là Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Bộ luật dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Ngày 16/12/2016, chị Vũ Thị H có ký Hợp đồng tín dụng số: 20161216-0007663 với Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng VT (tên viết tắt VPB C) để vay số tiền 31.650.000đồng. Mục đích vay là: Tiêu dùng cá nhân. Hình thức vay: Vay tín chấp và không có tài sản bảo đảm, lãi suất theo thỏa thuận là 4,17%/tháng. Kể từ thời điểm vay chị H mới trả được cho VPB C được một lần với tổng số tiền cả gốc và lãi là 2.226.000đồng, trong đó: nợ gốc đã trả là: 439.306đồng; nợ lãi đã trả là: 1.786.694đồng. Tổng số tiền chị H còn phải trả tính đến ngày 28/9/2018 là: 31.210.694đồng tiền gốc + 16.261.475đồng tiền lãi trong hạn = 47.472.169đồng.

Quá trình giải quyết vụ án chị H đồng ý trả nợ theo yêu cầu khởi kiện của VPB C, nhưng do điều kiện khó khăn chị H xin được khất nợ trả dần số tiền gốc mỗi tháng trả là 2.500.000đồng và xin được miễn tiền lãi. Tuy nhiên, nguyên đơn không đồng ý. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên việc VPB C khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán tổng số tiền gốc và tiền lãi trong hạn là: 47.472.169đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Việc bị đơn chị Vũ Thị H xin khất nợ trả dần số tiền gốc và xin được miễn tiền lãi nhưng nguyên đơn không đồng ý nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận yêu cầu này của bị đơn.

Như vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ, quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc về giải quyết vụ án là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí. Buộc bị đơn chị Vũ Thị H phải chịu tương ứng với số tiền phải trả là: 47.472.169đồng x 5% = 2.373.608đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 2 Điều 91 và khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Các Điều 463, 466, 468, 470 và 357 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí.

Buộc chị Vũ Thị H có nghĩa vụ trả nợ cho Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng VT tổng số tiền là 47.472.169đồng (Bốn mươi bảy triệu bốn trăm bảy mươi hai nghìn một trăm sáu chín đồng) Trong đó số tiền gốc là: 31.210.694đồng (Ba mốt triệu hai trăm mười nghìn sáu trăm chín mươi bốn đồng), số tiền lãi là: 16.261.475đồng (Mười sáu triệu hai trăm sáu mốt nghìn bốn trăm bảy mươi lăm đồng).

Kể từ ngày Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng VT có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị Vũ Thị H không tự nguyện thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vũ Thị H phải chịu 2.373.608đồng (Hai triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn sáu trăm linh tám đồng). Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng VT không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại Công ty tài chính số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.190.000đồng (Một triệu một trăm chín mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số: AA/2017/0000415 ngày 11/7/2018, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ