- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyen Thi Thu T - Pham Ngoc L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1990/2021/HNGĐ-ST Ngày: 09/11/2021 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Châu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Tiến Dũng
2. Bà Nguyễn Thị Lượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1061/2020/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2020 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2062/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1986
Thường trú: đường C, khu phố M, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Phạm Ngọc L, sinh năm 1985
Thường trú: đường C, khu phố M, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hiện đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại Trung tâm Cai nghiện Ma túy Thanh Đa (cơ sở 2) thuộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Điều dưỡng và Cai nghiện Ma Túy Thanh Đa (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T trình bày:
Bà T và ông Phạm Ngọc L tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 03/8/2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tự lập. Ban đầu, vợ chồng chung sống rất hạnh phúc. Đến thời gian năm 2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do ông L bắt đầu nghiện ma túy. Bà T đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông L không cai nghiện được. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, bà T đã nhiều lần tạo cơ hội cho ông L thay đổi nhưng ông L không thay đổi. Nay bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn, không còn khả năng hàn gắn quan hệ vợ chồng nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông L.
Về con chung: Bà T và ông L có 01 con chung tên Phạm Ngọc Lan A, sinh ngày 07/01/2010. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Phạm Ngọc L cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
2. Bị đơn ông Phạm Ngọc L trình bày:
Ông L và bà T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Bình Chiểu, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Một thời gian sau, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông L nghiện ma túy. Ông L sử dụng ma túy từ năm 1997 và đã đi cai nghiện. Sau khi kết hôn, ông L đã cai ma túy. Cách đây 04 năm ông L tái sử dụng ma túy nên vợ không chấp nhận chung sống. Vợ chồng đã ly thân cách đây 04 năm. Hiện ông L đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại Trung tâm Cai nghiện Ma túy Thanh Đa (cơ sở 2). Ông L xác định vẫn còn yêu thương vợ con nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Bà T và ông L có 01 con chung tên Phạm Ngọc Lan A, sinh ngày 07/01/2010. Trường hợp phải ly hôn, ông L đồng ý giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông L không cấp dưỡng nuôi con chung vì ông L không có việc làm ổn định.
Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
3. Tại phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thu T có đơn xin vắng mặt trong phiên tòa xét xử vụ án và xác định yêu cầu khởi kiện như sau: Về quan hệ hôn nhân: Bà T yêu cầu được ly hôn với ông L; Về con chung: Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phạm Ngọc Lan A, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Ông Phạm Ngọc L có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa do đang cai nghiện và đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T.
4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
4.1 Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, có vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đồng thời, quyền và nghĩa vụ của đương sự được tôn trọng và bảo đảm đúng quy định của pháp luật.
4.2 Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cùng lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Thu T yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Ngọc L. Theo Kết quả xác minh của Công an phường Bình Chiểu, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị đơn ông L có hộ khẩu thường trú tại số 252, Đường Lê Thị Hoa, khu phố 5, phường Bình Chiểu, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại Trung tâm Cai nghiện Ma túy Thanh Đa (cơ sở 2). Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ tranh chấp là ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Nguyên đơn bà T và bị đơn ông L có đơn xin được vắng mặt trong phiên tòa xét xử vụ án. Căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung: Xét yêu cầu của bà T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T và ông Phạm Ngọc L tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 03/8/2009 và được Ủy ban nhân dân phường Bình Chiểu, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 130, quyển số một. Do đó, căn cứ Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông L là hôn nhân hợp pháp.
Căn cứ Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T cương quyết yêu cầu được ly hôn với ông L vì tình cảm vợ chồng đã không còn. Ban đầu ông L yêu cầu được đoàn tụ gia đình vì còn yêu thương vợ con. Tuy nhiên, khi Tòa án tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, ông L thay đổi ý kiến đồng ý với toàn bộ yêu cầu của bà T.
Hội đồng xét xử xét thấy, việc đoàn tụ gia đình phải xuất phát từ sự tự nguyện của vợ và chồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T cương quyết yêu cầu ly hôn với ông L. Theo Văn bản số 2004/LĐTB ngày 26/11/2021 của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận T (nay là thành phố T) thì bà T và ông L không còn sống chung với nhau do mâu thuẫn gia đình. Cuộc sống vợ chồng giữa hai bên đã không còn tồn tại trên thực tế. Hiện ông L đang cai nghiện tại Trung tâm Cai nghiện Ma túy Thanh Đa (cơ sở 2) và cũng đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà T. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà T và ông L đã thật sự trầm trọng, khả năng hàn gắn đoàn tụ gia đình không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.
Về con chung: Xét theo Văn bản số 2004/LĐTB ngày 26/11/2021 của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận T (nay là thành phố T) và trình bày của bà T thì con chung tên Phạm Ngọc Lan A, sinh ngày 07/01/2010 hiện đang được bà T nuôi dưỡng và cháu Lan Anh có nguyện vọng được sống chung với bà T. Đồng thời, ông L cũng đồng ý giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và cũng để ổn định cuộc sống của con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung tên Phạm Ngọc Lan A cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do đây là tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn nên bà T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 186, Điều 244, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;
- Căn cứ Điều 19, 51, 53, 54, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T.
1.1 Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thu T và ông Phạm Ngọc L.
1.2 Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thu T và ông Phạm Ngọc L có 01 con chung tên Phạm Ngọc Lan A, sinh ngày 07/01/2010.
Giao con chung tên Phạm Ngọc Lan A cho bà Nguyễn Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Thu T không yêu cầu ông Phạm Ngọc L cấp dưỡng nuôi con chung.
Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
1.3 Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
1.4 Về nợ chung: Đương sự xác định không có.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0057999 ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận T (nay là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Thu T đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thu T và ông Phạm Ngọc L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TPHCM; - Viện Kiểm sát nhân dân TPHCM; - VKSND TP. Thủ Đức, TPHCM; - Chi cục THADS TP. Thủ Đức, TPHCM; - Đương sự; - Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Lưu VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phương Châu |