vanban.org

Bản án 199/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 14/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm p, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Cầm Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Cầm Văn C 06 (sáu) năm tù - Thời hạn tù tính từ ngày 17/6/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cầm Văn Cường tàng trữ ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm p, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 199/2023/HSST
Ngày 14 tháng 9 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Viễn, Lò Văn Thôn

- Thư ký phiên toà:

Bà Hà Thị Phương Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:

Ông Trần Thanh Quân - Kiểm sát viên .

Ngày 14 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 180/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197a/2023/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 8 năm 2023,đối với bị cáo:

Họ và tên: Cầm Văn C - Sinh ngày 08/7/1996; Nơi cư trú: Bản H, xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; Nơi ở hiện tại: Bản T, xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ giáo dục phổ thông: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đảng phái: Không; Con ông Cầm Văn K con bà Cầm Thị T; Bị cáo có vợ là Vì Thị T và có 03 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ, giam từ ngày 17/6/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 50 phút ngày 16/6/2023 Tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp với Công an xã Chiềng Khương làm nhiệm vụ tại bản Thống Nhất, xã Chiềng Khương, huyện Sông Mã, khi đến quán cắt tóc của Cầm Văn C, Tổ công tác phát hiện ngay tại vị trí ngồi của C có 01 viên nén hình tròn màu hồng, 01 túi nilon màu xanh bên trong chứa 18 viên nén màu hồng, 02 túi nilon màu hồng, bên trong túi thứ nhất chứa 12 viên nén màu hồng, túi nilon thứ hai chứa 99 viên nén màu hồng (C khai nhận là Hồng phiến) mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ và niêm phong vật chứng, tạm giữ đồ vật liên quan gồm 01 tẩu tự chế, 01 bật lửa ga.

Ngày 17/6/2023 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã đã thành lập hội đồng mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định, kết quả:

" 01 viên nén màu hồng có khối lượng 0,09 gam, trích hết làm mẫu giám định ký hiệu C.

18 viên nén màu hồng trong túi nilon màu xanh có khối lượng 1,74 gam, trích 02 viên có khối lượng 0,19 gam làm mẫu giám định ký hiệu C1, còn lại 16 viên có khối lượng 1,55 gam vật chứng lưu kho ký hiệu L1.

12 viên nén màu hồng trong túi nilon màu hồng thứ nhất có khối lượng 1,16 gam, trích 02 viên có khối lượng 0,19 gam làm mẫu giám định ký hiệu C2, vật chứng còn lại 10 viên có khối lượng 0,97 gam lưu kho ký hiệu L2".

99 viên nén màu hồng trong gói nilon màu hồng thứ hai có khối lượng 9,56 gam, trích 02 viên có khối lượng 0,19 gam làm mẫu giám định ký hiệu C3, vật chứng còn lại 97 viên có khối lượng 9,37 gam lưu kho ký hiệu L3.

Kết luận giám định số 1552/KL-KTHS ngày 21/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

“Các mẫu gửi giám định ký hiệu C, C1, C2, C3 đều là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của các mẫu gửi giám định là C= 0,09 gam, C1 = 0,19 gam, C2 = 0,19 gam, C3= 0,19 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 12,55 gam, loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra bị can khai nhận: Khoảng tháng 4 năm 2023 C sang huyện Mường Ét, tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào để chơi tết truyền thống của Lào. Tại đây C gặp một người đàn ông người Lào không quen biết qua trò chuyện C hỏi mua 03 túi hồng phiến với giá 3.500.000đ/01 túi, sau đó Cường đưa cho người này 10.500.000đ, sau khi nhận tiền người này đã gọi điện thoại cho một người khác mang đến đưa cho Cường 01 túi nilon màu xanh và 02 túi nilon màu hồng bên trong đều chứa Hồng phiến. Mua được ma túy, C mang về quán cắt tóc tại bản Thống Nhất, xã Chiềng Khương, huyện Sông Mã cất giấu để sử dụng dần. Từ ngày mua được ma túy đến ngày 16/6/2023 mỗi ngày C sử dụng từ 05-10 viên, còn lại 130 viên C vẫn cất giấu ở quán. Đến 20 giờ 40 phút ngày 16/6/2023 C lấy Hồng phiến ra để sử dụng thì Tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp với Công an xã Chiềng Khương làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang.

Cáo trạng số 131/CT-VKSSM ngày 10 tháng 8 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Cầm Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đối với người đàn ông bị can khai nhận bán ma túy cho bị can, quá trình điều tra do bị can không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã không có căn cứ để mở rộng điều tra.

Tại phiên toà kiểm sát viên thực hiện quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cầm Văn Cường phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm p, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Cầm Văn C từ 06 năm - 06 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại và vật chứng liên quan.

Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định. Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận, khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 16/6/2023; Vật chứng bị thu giữ; Kết luận giám định số 1552/KL-KTHS ngày 21/6/2023; Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội; Biên bản ghi lời khai của người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 16/6/2023 Cầm Văn C có hành vi cất giấu 12,55gam ma tuý, loại chất Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố và Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai cho bị cáo.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ gây nguy hại cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, mà còn ảnh hưởng sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo là người khuyết tật, mức độ khuyết tật nặng; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải - Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm p, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để quyết định một mức hình phạt phù hợp, nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác định được gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Số ma túy còn lại sau giám định và vật chứng liên quan cần tịch thu tiêu hủy.

Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông bị cáo khai nhận bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra do bị cáo không biết được đối tượng cụ thể, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã không có căn cứ để mở rộng điều tra làm rõ là đảm bảo quy định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Về đề nghị của Kiểm sát viên: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm p, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:

- Tuyên bố: Bị cáo Cầm Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Cầm Văn C 06 (sáu) năm tù - Thời hạn tù tính từ ngày 17/6/2023.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

+ 1,55 gam Methamphetamine.

+ 0,97 gam Methamphetamine.

+ 9,37 gam Methamphetamine.

+ 01 túi nilon màu xanh (túi chứa 1,55 gam Methamphetamine).

+ 01 túi nilon màu hồng (túi chứa 0,97 gam Methamphetamine).

+ 01 túi nilon màu hồng (túi chứa 9,37 gam Methamphetamine).

+ 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã được bóc mở.

(các vật chứng được đựng trong một phong bì do Bưu điện Việt Nam phát hành được niêm phong, giấy dán niêm phong có mã số 064656).

+ 01 tẩu tự chế.

+ 01 bật lửa ga.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 123/QĐ-VKSSM ngày 10/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã và Biên Bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/8/2023 giữa Công an huyện Sông Mã và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/9/2023)./.

Cỡ chữ