vanban.org

Bản án 199/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 26/11/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/11/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tạ Đình T xin hưởng án treo; không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt; sửa bản án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Tạ Đình T 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách đối với bị cáo là 01 năm 04 tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Tạ Đình T cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện LN, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Đình T, Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tạ Đình T xin hưởng án treo; không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt; sửa bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG
Bản án số: 199/2022/HS-PT
Ngày 26 tháng 11 năm 2022

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nhiên;

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Hà;

Ông Nguyễn Hải Vinh.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Khánh Hưng- Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Lâm Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 26/11/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 327/TLPT-HS ngày 02 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo Tạ Đình T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 52/2022/HS-ST ngày 12/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện LN, tỉnh Bắc Giang. Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Tạ Đình T, sinh năm 1980. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.

Nơi cư trú: thôn A, xã B, huyện LN, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh.Tôn giáo: Không.

Nghề nghiêp: Tự do. Trình độ học vấn: 5/12.

Con ông Tạ Đình P, sinh năm 1957 (đã chết) và bà Phạm Thị D, sinh năm 1957. Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình.

Vợ: Dương Thị M, sinh năm 1985; Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 26/4/2022 đến ngày 05/5/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Hiện bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 40 ngày 25/4/2022, tại gian bếp gia đình Hà Văn K, sinh năm 1975 trú tại thôn C, xã K, huyện LN, tỉnh Bắc Giang, Công an huyện LN phối hợp cùng Công an xã K bắt quả tang các đối tượng đang có hành vi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh “Liêng” gồm: Tạ Đình T, sinh năm 1980 trú tại thôn A, xã K; Đinh Xuân Đ, sinh năm 1971 trú tại thôn A, xã K; Bùi Văn C, sinh năm 1970 trú tại thôn C, Nghĩa Phương; Bùi Văn Đ, sinh năm 1993 trú tại thôn C, xã K; Phan Đình Yên, sinh năm 1975, trú tại thôn A, xã K; Lành Văn T, sinh năm 1980 trú tại thôn Hố Nước, xã K; Lê Công B, sinh năm 1980, trú tại thôn A, xã K; Nguyễn Văn T, sinh năm 1988, trú tại thôn A, xã K, huyện LN.

Vật chứng thu giữ tại chiếu bạc gồm: Số tiền 5.210.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và 02 chiếu cói.

Thu giữ trên người các đối tượng bị bắt các đồ vật, tài sản gồm: thu của Phan Đình Yên 01 điện thoại OPPO và 10.000đ; Tạ Đình T 01 điện thoại Iphone và 400.000đ; Lê Công B 01 điện thoại MI và 01 điện thoại Nokia màu đen; Bùi Văn C 01 điện thoại VIVO, 01 ví da màu nâu đỏ, số tiền 5.870.000đ; Nguyễn Văn T 01 điện thoại Iphone; Lành Văn T 01 điện thoại Iphone màu đen; Đinh Xuân Đ: 1.000.000 đồng.

Ngoài ra còn thu giữ một số đồ vật, tài sản thu giữ trong quá trình bắt người phạm tội quả tang, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện LN tiến hành xử lý trả lại cho chủ sở hữu theo quy định.

Quá trình điều tra xác định được như sau: Khoảng 20 giờ ngày 25/4/2022, Hà Văn K đang ở nhà thì lần lượt các đối tượng đến nhà Khu chơi và uống nước gồm: Nguyễn Tiến Thảo, sinh năm 1968 trú tại thôn Kỳ Sơn, Nghĩa Phương; Bùi Văn C, sinh năm 1970; Bùi Văn Đ, sinh năm 1993 đều trú tại thôn C, Nghĩa Phương; Phan Đình Yên, sinh năm 1975; Tạ Đình T, sinh năm 1980; Lê Công B, sinh năm 1980; Đinh Xuân Đ, sinh năm 1971, đều trú tại Phạm Đình Y, Nghĩa Phương; Lành Văn T, sinh năm 1980 và Trần Văn Kết, sinh năm 1976 đều trú tại thôn Hố Nước, Nghĩa Phương, huyện LN, tỉnh Bắc Giang. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày Cảnh, Định, Yên, Trí, Bắc, Đến, Tám cùng rủ nhau xuống gian bếp của gia đình Khu để đánh bạc, sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh liêng.

Sau khi thống nhất hình thức, cách thức đánh bạc, Cảnh, Định, Yên, Trí, Bắc, Đến và Tám ngồi tại chiếu bạc trong bếp nhà Khu đánh bạc sát phạt nhau; Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì Nguyễn Văn T, sinh năm 1988 trú tại Phạm Đình Y, Nghĩa Phương, Lục Nam đến nhà Khu chơi thấy mọi người đánh bạc nên cũng vào tham gia đánh bạc cùng. Cảnh, Định, Yên, Trí, Bắc, Đến, Tám và Tuấn đánh bạc sát phạt nhau đến 21 giờ 40 phút cùng ngày thì bị Công an huyện LN phối hợp cùng Công an xã K phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Ngày 26/4/2022, Hà Văn K đến Công an huyện LN đầu thú và khai nhận việc cho các đối tượng C, Đ, Y, T, B, Đ, T và T đánh bạc, sát phạt nhau bằng tiền tại gian bếp của gia đình Khu.

Về số tiền mang theo và sử dụng đánh bạc, các bị cáo khai nhận:

- Bùi Văn C khai mang theo số tiền 5.930.000 đồng nhưng chỉ bỏ ra 930.000 đồng để đánh bạc, số tiền đánh bạc, Cảnh để dưới chiếu. Khi bị bắt, Cảnh lấy tiền của mình để dưới chiếu cất giấu trong người và để chung vào số tiền không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Trong số tiền 5.870.000 đồng bị thu giữ có 870.000 đồng Cảnh dùng vào việc đánh bạc (Cảnh đang thua bạc 60.000 đồng), còn 5.000.000 đồng cất giữ trên người không sử dụng để đánh bạc.

- Nguyễn Văn T khai có 300.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt, Tuấn để tiền dưới chiếu bạc nên không biết mình đang thắng hay thua bạc.

- Tạ Đình T khai sử dụng 2.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt Trí thua bạc và còn lại số tiền 400.000 đồng.

- Lành Văn T khai trước khi tham gia đánh bạc có 850.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt, Tám để tiền dưới chiếu bạc nên không biết mình đang thắng hay thua bạc.

- Bùi Văn Đ khai trước khi tham gia đánh bạc có 500.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt, Định để tiền dưới chiếu bạc nên không biết mình đang thắng hay thua bạc.

- Lê Công B khai sử dụng 400.000 đồng tham gia đánh bạc. Khi bị bắt, Bắc để tiền dưới chiếu bạc nên không biết mình đang thắng hay thua bạc.

- Phan Đình Yên khai sử dụng 1.010.000 đồng để đánh bạc, Khi bị bắt, Yên thua bạc còn lại số tiền 10.000 đồng.

- Đinh Xuân Đ khai sử dụng 1.500.000 đồng mang theo đánh bạc. Khi bị bắt, Đến thua bạc còn lại số tiền 1.000.000 đồng.

- Hà Văn K (chủ nhà) khai: Khu chỉ ngồi xem các đối tượng đánh bạc, Khu không tham gia đánh bạc.

Tổng số tiền các bị can Cảnh, Định, Yên, Trí, Bắc, Đến, Tám và Tuấn đánh bạc xác định là: 7.490.000 đồng (gồm 5.210.000 đồng thu tại chiếu bạc; 870.000 đồng thu trên người Cảnh; 400.000 đồng thu giữ trên người Trí; 10.000 đồng thu giữ trên người Yên và 1.000.000 đồng thu giữ trên người Đến).

Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số: 52/2022/HS-ST ngày 12/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện LN, tỉnh Bắc Giang đã quyết định: Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Tạ Đình T 08 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt Thi hành án (Trừ đi số ngày tạm giữ 26/4/2022 đến ngày 05/5/20220). Phạt bổ sung 10.000.000đ sung quỹ Nhà nước.

Ngoài ra án còn tuyên xử phạt các bị cáo khác, quyết định xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 16/9/2022, bị cáo Tạ Đình T kháng cáo phần hình phạt chính của bản án sơ thẩm với đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Tạ Đình T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo thừa nhận bản án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo đã tự nguyện nộp 10.200.000 đồng tiền phạt bổ sung và án phí theo bản án sơ thẩm đã tuyên nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ và cho bị cáo hưởng án treo.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Tạ Đình T khẳng định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội và quyết định hình phạt 08 tháng tù đối với bị cáo là không nặng. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo đã tự nguyện nộp 10.200.000 đồng tiền phạt bổ sung và án phí theo bản án sơ thẩm đã tuyên và qua xem xét, đánh giá toàn diện về nhân thân của bị cáo thấy: Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nhân thân tốt, chưa từng bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tạ Đình T giữ nguyên mức hình phạt của cấp sơ thẩm nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị cáo Tạ Đình T gửi đơn kháng cáo đến Tòa án nhân dân huyện LN, tỉnh Bắc Giang theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là kháng cáo hợp pháp. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét, giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

Về tội danh và hình phạt: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Tạ Đình T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã nêu và nhận định là đúng sự thật, không oan. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo khác tại cơ quan điều tra; biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 21 giờ 40 ngày 25/4/2022, tại gian bếp của gia đình Hà Văn K ở thôn C, xã K, huyện LN, Công an huyện LN phối hợp với Công an xã K bắt quả tang Tạ Đình T, Bùi Văn Đ, Phan Đình Yên, Lê Công B, Bùi Văn C, Nguyễn Văn T, Đinh Xuân Đ và Lành Văn T đang có hành vi đánh bạc trái phép sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh “Liêng”. Tổng số tiền các bị cáo dùng đánh bạc là 7.490.000 đồng.

Hành vi nêu trên của Tạ Đình T và các bị cáo khác đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với Tạ Đình T và các bị cáo khác về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá toàn diện và áp dụng đúng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và xử phạt 08 tháng tù về tội “Đánh bạc” là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Tạ Đình T thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa từng bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; có nơi cư trú rõ ràng. Trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo đã tự nguyện thi hành nộp số tiền phạt bổ sung và án phí hình sự theo bản án sơ thẩm đã tuyên là 10.200.000đồng, điều này thể hiện sự ăn năn, hối cải và chấp hành phát luật của bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Tạ Đình T. Xét thấy, việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm; bị cáo tuổi đời còn trẻ, là lao động chính trong gia đình và đang có 2 con nhỏ, nhất thời phạm tội nên cần tạo cơ hội cho bị cáo sửa chữa, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm nhưng cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phúc thẩm là phù hợp với các quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự phúc thẩm:

- Do kháng cáo của bị cáo Tạ Đình T được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tạ Đình T xin hưởng án treo; không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt; sửa bản án sơ thẩm.

2. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Tạ Đình T 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách đối với bị cáo là 01 năm 04 tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Tạ Đình T cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện LN, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Tạ Đình T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Xác nhận bị cáo đã nộp xong tiền phạt bổ sung và án phí HSST của Bản án sơ thẩm (tại Biên lai số 0005391, ngày 17/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện LN).

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ