vanban.org

Bản án 199/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Tr được ly hôn anh Phan Tấn H. Về việc nuôi con: Giao cháu Phan Ngọc H2, sinh ngày 19/6/2016 và Phan Ngọc H1, sinh ngày 12/9/2019 cho chị Võ Thị Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị T - Phan Tấn H yêu cầu ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LỘC
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 199/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 12-9-2022
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Xuân Huế.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Vy và ông Hồ Sỹ Định.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thể, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 119/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2022, về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 09/8/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Tr, sinh năm 1979. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 3, xã V, huyện P, tỉnh T. Nơi cư trú: Đội 1, xã G, huyện P, tỉnh T. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Phan Tấn H, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn 3, xã V, huyện P, tỉnh T. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 20 tháng 5 năm 2022 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn là chị Võ Thị Tr trình bày: Nguyên đơn và bị đơn là anh Phan Tấn H chung sống với nhau, tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 03/9/2013, tại Uỷ ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh T. Vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian khoảng 6 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, anh H hay uống rượu bia, không có trách nhiệm với gia đình, vợ chồng hay cải vả xúc phạm nhau. Từ tháng 02/2022 đến nay, chị Tr và anh H sống ly thân, không ai quan tâm đến ai, cuộc sống mỗi người tự lo liệu. Chị Tr xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phan Tấn H.

Vợ chồng có 2 người con chung là Phan Ngọc H2, sinh ngày 19/6/2016 và Phan Ngọc H1, sinh ngày 12/9/2019. Các con chung hiện do chị Tr chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Tr yêu cầu Tòa án giải quyết giao 02 người con chung cho chị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Chị Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 21 tháng 6 năm 2022, anh Phan Tấn H trình bày ý kiến như sau:

Về quan hệ hôn nhân và mâu thuẫn vợ chồng trình bày thống nhất như chị Võ Thị Tr đã trình bày. Anh H cho rằng vẫn còn tình cảm vợ chồng với chị Tr nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho vợ chồng đoàn tụ để tiếp tục nuôi dưỡng con cái trưởng thành.

Nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn, anh H yêu cầu Tòa án giải quyết giao 02 người con chung cho anh được chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Không yêu cầu chị Tr cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Bị đơn cơ bản chấp hành pháp luật, nhưng không tham gia các Phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và phiên tòa làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

- Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, Điều 147; Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Võ Thị Tr.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc đã tiến hành các thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng để triệu tập anh Phan Tấn H đến phiên tòa theo đúng quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa anh Phan Tấn H vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng. Do đó, Tòa án căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Phan Tấn H.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Tr và anh Phan Tấn H chung sống với nhau và có đăng ký kêt hôn theo quy định của pháp luật nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Quá trình sống chung, giữa 2 người đã xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vả xúc phạm nhau và đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2022 cho đến nay. Chị Tr yêu cầu ly hôn, anh H xin đoàn tụ vợ chồng, Tòa án đã tổ chức nhiều phiên hòa giải để hòa giải quan hệ hôn nhân giữa các đương sự. Tuy nhiên, anh H không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án nên không thể tiến hành hòa giải được. Như vậy, mặc dù anh H xin đoàn tụ nhưng không có biện pháp để khắc phục mâu thuẫn, bỏ mặc tình trạng quan hệ hôn nhân giữa hai người trong khi chị Tr cương quyết xin được ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của chị Tr và anh H không thể khắc phục được, đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị Võ Thị Tr yêu cầu ly hôn anh Phan Tấn H là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Tr.

Về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Cả chị Tr và anh H đều có yêu cầu được nuôi 02 người con chung. Tuy nhiên, xét hiện nay cả 02 người con chung đang do chị Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị Tr có công việc ổn định đủ điều kiện để nuôi con, các cháu còn nhỏ, rất cần sự chăm sóc của người mẹ để các cháu có điều kiện phát triển toàn diện cả thể chất và tinh thần nên cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của nguyên đơn.

Theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử đã giải thích cho chị Tr nhưng chị Tr trình bày có đủ khả năng, điều kiện để nuôi con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Võ Thị Tr phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39, Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Tr được ly hôn anh Phan Tấn H.

2. Về việc nuôi con: Giao cháu Phan Ngọc H2, sinh ngày 19/6/2016 và Phan Ngọc H1, sinh ngày 12/9/2019 cho chị Võ Thị Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Anh Phan Tấn H không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Võ Thị Tr phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ chị Tr đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0002493, ngày 20/5/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lộc. Chị Tr đã nộp đủ.

4. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ