- Tranh chấp gì? "Bị cáo Nguyễn Minh K phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
TÒA N NH N N
C N HÒA
H CH N H V T N M T NH Đ N TH
Đ c p - T do - H nh ph c Bản án số: 198/2023/HS-PT Ngày: 24-7-2023
NHÂN DANH
NƯỚC C NG HÒ
H CH N H V T N M
TÒ N NH N N T NH Đ NG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tuấn Anh
Ông Phạm Minh Tùng
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhựt Minh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự ph c thẩm thụ lý số: 164/2023/TLPT-HS ngày 28 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Minh K. Do có kháng cáo c a bị cáo Nguyễn Minh K đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2023/HS-ST ngày 25 tháng 5 năm 2023 c a Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Minh K (tên gọi khác B), sinh ngày 12/8/1999, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư tr : ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N và bà Võ Thị L; Chưa có vợ con (tại phiên tòa khai đã có vợ); Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ: ngày 22/9/2022, Tạm giam: từ ngày 28/9/2022 đến ngày 21/11/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có bị cáo Võ Thị S và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, Vi n ki m sát không kháng nghị.
N
N V N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 05 giờ ngày 22/9/2022 bị cáo Võ Thị S điều khiển phương tiện xe mô tô biển số 61H1-311.52 c a con gái là Võ Kim P đến khu vực bờ kè thị xã T, tỉnh An Giang gặp một người đàn ông, không biết họ tên, địa chỉ mua 21 túi nylon hàn kín, bên trong mỗi túi nylon có chứa ma t y đá, với số tiền 3.900.000đ, khi về đến nhà bị cáo S lấy ma t y để trên giường nhà khách, lúc này bị cáo K điện thoại hỏi bị cáo S có ma túy không thì bị cáo S trả lời là có. Sau đó, Phan Thành Đ được Châu Hoàng L1 là người sống chung như vợ chồng với bị cáo S gọi điện thoại đến nhà sửa micro, một lúc sau Lê Duy T đến nhà bị cáo S đi thẳng vào phòng ng c a bị cáo S có để sẵn 01 bộ dụng cụ (gồm 01 chai nhựa có in dòng chữ STING, màu đỏ, có nắp đậy màu đỏ, 01 nỏ th y tinh, 01 ống hút nhựa màu trắng đỏ), dùng để sử dụng ma túy lúc này bị cáo S ném 01 tép ma túy xuống gạch về phía T ngồi, sau đó Phan Thành Đ bước vào thì T kêu Đ lấy ma t y đổ vào nỏ sử dụng và bị cáo S hít một hơi rồi ra ngoài, còn Đ, T trong phòng tiếp tục sử dụng ma t y. L c này K đi đến nhà bị cáo S thì bị cáo S nói với K là Đ, T đang sử dụng ma túy trong phòng nên bị cáo K đi vào phòng sử dụng ma túy chung với T, Đ, sau đó bị cáo S bước vào phòng tiếp tục ném 01 t i nylon chứa ma t y xuống gạch về phía bị cáo K, K nhặt t i ma t y lên cầm trên tay định đi về thì lực lượng Công an bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ:
1. 19 túi nylon hàn kín, bên trong đều chứa tinh thể rắn (nghi là ma túy) được niêm phong trong phong bì giấy có các chữ ký ghi họ tên c a Nguyễn Văn B1, Nguyễn Thanh T1, Huỳnh Văn H, Võ Thị S có dấu tròn màu đỏ c a Công an xã Lhánh B;
2. 01 túi nylon hàn kín, bên trong chứa tinh thể rắn (nghi là ma t y) được niêm phong trong phòng bì giấy có các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn B1, Nguyễn Thanh T1, Huỳnh Văn H, Nguyễn Minh K và có dấu tròn màu đỏ c a Công an xã L;
3. 01 ống kim loại màu bạc, có nắp đậy bằng nhựa màu trắng, đã qua sử dụng;
4. Tiền Việt Nam 1.050.000đ (trong đó c a bị cáo S 650.000đ, 200.000đ là c a K, 100.000đ c a D, 100.000đ c a T sử dụng mua ma túy c a bị cáo S);
5. 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy gồm 01 chai nhựa có in dòng chữ STING, màu đỏ, có nắp đậy màu đỏ, 01 nỏ th y tinh, 01 ống hút nhựa màu trắng – đỏ, được niêm phong trong phong bì giấy có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn B1, Nguyễn Thanh T1, Huỳnh Văn H, Phan Thành Đ, Lê Duy T và có dấu tròn màu đỏ c a Công an xã L;
6. 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy, đã qua sử dụng;
7. 01 bật lửa màu đỏ, đã qua sử dụng;
8. 01 chai gas bằng kim loại màu đen, có chữ BLUESKY màu xanh, đã qua sử dụng;
9. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, đã qua sử dụng, là tài sản c a bị cáo S dùng liên lạc bán ma t y cho bị cáo K);
10. 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, đã qua sử dụng, là tài sản c a Lê Duy T;
11. 01 điện thoại di dông nhã hiệu OPPO màu xanh đen, đã qua sử dụng, là tài sản c a Phan Thành Đ;
12. 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario màu trắng xanh, biển số 66G1-648.24, số khung MH1KF4129LK108151, số máy KF41E2112245, đã qua sử dụng là tài sản c a Lê Nhật H1 (em ruột c a Lê Duy T) đứng tên sở hữu;
13. 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX màu đỏ đen, biển số 66G1-310.68, số khung RLHIA3211EY019687, số máy JA82E1038441, đã qua sử dụng là tài sản c a Nguyễn Minh K;
14. 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha màu đỏ, biển số 66H7-5971, số máy VTTJL11P52FMH039657, số khung SX-039657, đã qua sử dụng do chị Đặng Hòa B2 là dì c a Phan Thành Đ đứng tên ch sở hữu.
Tại kết luận giám định số 842/KL-KTHS ngày 25/9/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, kết luận:
1. Tinh thể rắn chứa trong 19 túi nylon (ký hiệu mẫu M1) được niêm phong trong phong bì giấy nêu trên gửi giám định đều là chất ma túy, có tổng khối lượng 7,545gam, loại Methamphetamine (số thứ tự 247 thuộc Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 c a Chính ph ).
2. Tinh thể rắn chứa trong 01 t i nylon hàn kín (ký hiệu mẫu M2) được niêm phong trong phong bì giấy nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có tổng khối lượng 0,209gam, loại Methamphetamine.
Hoàn trả đối tượng gửi giám định: Mẫu tinh thể rắn ký hiệu M1 còn lại sau giám định có khối lượng 7,014gam; Mẫu tinh thể rắn ký hiệu M2 còn lại sau giám định có khối lượng 0,154gam.
Tại kết luận giám định số 860/KL-KTHS ngày 28/9/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, kết luận: Tinh thể rắn chứa trong ống th y tinh (nỏ th y tinh) được niêm phong trong phong bì giấy nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,050 gam, loại Methamphetamine (số thứ tự 247 thuộc Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 c a Chính ph ),
Hoàn trả đối tượng gửi giám định: Mẫu tinh thể rắn đã sử dụng hết cho công tác giám định, ống th y tinh (nỏ th y tinh) và chai nhựa có in chữ STING có nắp đậy màu đỏ, trên nắp đậy có gắn 01 ống hút nhựa màu trắng - đỏ (bên trong không chứa gì) được niêm phong lại trả cho Cơ quan trưng cầu khi nhận Kết luận giám định.
Kết quả xét nghiệm chất ma t y cùng ngày 22/9/2022 trong cơ thể bị cáo Võ Thị S, Nguyễn Minh K, Lê Duy T, Phan Thành Đ tất cả đều dương tính với ma túy.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Võ Thị S thừa nhận 19 t i ma t y có tổng khối lượng 7,545 gam, loại Methamphetamine là bị cáo S mua mục đích tàng trữ để sử dụng, không phải để bán lại, bị cáo S chỉ chia, mời K, Đ, T sử dụng, rồi K, Đ, Thanh tự quy định đưa lại 200.000đ/1 tép ma t y cho bị cáo. Bị cáo Nguyễn Minh K thừa nhận số ma túy có khối lượng 0,209 gam, loại Methamphetamine là c a bị cáo K mua c a bị cáo S về tàng trữ để sử dụng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Duy T, Phan Thành Đ đều khẳng định ma túy mua từ bị cáo S, không phải bị cáo S cho, chia lại hay mời hút hay hùn tiền cùng bị cáo S mua ma t y để sử dụng, 01 tép ma túy, trị giá 200.000đ, trong đó T, Đ hùn mỗi người 100.000đ, K, T, Đ chưa trả tiền cho bị cáo S, dụng cụ sử dụng ma túy trong phòng ng để T, Đ, K sử dụng ma túy là do bị cáo S chuẩn bị.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2023/HS-ST ngày 25 tháng 5 năm 2023 c a Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự đã quyết định:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ những ngày tạm giữ, tạm giam, từ ngày 22/9/2022 đến ngày 21/11/2022.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Võ Thị S về 03 tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y”, “Mua bán trái phép chất ma t y” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma t y” với tổng mức hình phạt là 19 (mười chín) năm tù; tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 02 tháng 6 năm 2023, bị cáo Nguyễn Minh K có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa ph c thẩm, bị cáo Nguyễn Minh K thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Cũng tại phiên tòa ph c thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi c a bị cáo Nguyễn Minh K bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đ ng người, đ ng tội. Xét mức hình phạt 01 năm 03 tháng tù đối với bị cáo K mà án sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội c a bị cáo gây ra. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp tình tiết nào mới ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo c a bị cáo Nguyễn Minh K. Giữ nguyễn phần quyết định c a bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo K.
Bị cáo Nguyễn Minh K không tranh luận. Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NH N Đ NH C TÒ N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội c a bị cáo phù hợp với lời khai c a bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các kết luận giám định số: 842/KL-KTHS ngày 25/9/2022 và kết luận giám định số 860/KL-KTHS ngày 28/9/2022 c a phòng K1 Công an tỉnh Đ, vật chứng và các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đ cơ sở xác định: Do nghiện ma t y nên bị cáo Nguyễn Minh K đã có hành vi tàng trữ 01 bịch ma t y có tổng khối lượng là 0,209 gam, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng tang vật.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi c a bị cáo Nguyễn Minh K là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý c a Nhà nước về các chất ma t y. Hành vi c a bị cáo là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác như: Trộm cắp, cướp giật, … làm gia tăng tệ nạn nghiện ngập ma túy trong xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, động cơ mục đích phạm tội là để tư lợi cá nhân, nhằm thỏa mãn cơn nghiện.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Minh K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đ ng người, đ ng tội. Xét mức hình phạt 01 năm 03 tháng tù đối với bị cáo K mà án sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội c a bị cáo gây ra. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết nào mới ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo c a bị cáo Nguyễn Minh K. Giữ nguyễn phần quyết định c a bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
[4] Xét đề nghị c a vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Nguyễn Minh K là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Do kháng cáo c a bị cáo Nguyễn Minh K không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự ph c thẩm.
Các phần khác c a quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 c a Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt c a bị cáo Nguyễn Minh K. Giữ nguyên quyết định c a bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Minh K.
2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ những ngày tạm giữ, tạm giam, từ ngày 22/9/2022 đến ngày 21/11/2022.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Nguyễn Minh K phải chịu 200.000đ án phí hình sự ph c thẩm. 4. Các phần khác c a quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án ph c thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC (Vụ GĐKT 1); - VKSND Tỉnh; - Ban nội chính Tỉnh y; - Sở Tư pháp Tỉnh; - Trại tạm giam CAT; - TAND huyện Hồng Ngự (02 bản); - VKSND huyện Hồng Ngự; - Chi cục THADS huyện Hồng Ngự; - Cơ quan CSĐT CA huyện Hồng Ngự; - Cơ quan THAHS CA huyện Hồng Ngự; - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh; - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh; - Bị cáo; - Lưu VT, HSVA, (Nhựt Minh). | TM. H Đ NG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM H N-CH TỌ H ÊN TÒ (đã ký) Lê Khắc Thịnh |