vanban.org

Bản án 198/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Dương Minh M 04 (bốn) năm tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/7/2025.

Buộc bị cáo Dương Minh M bồi thường số tiền 130.000.000 (một trăm ba mươi triệu) đồng cho những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị hại gồm bà Nguyễn Thị Xiêm, ông L.T.S, chị Lê Nguyễn Anh Th và trẻ Lê Nguyễn Anh Kh (bà X, chị Th, trẻ Kh có người đại diện hợp pháp là ông L.T.S). Thi hàn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Dương Minh M 04 (bốn) năm tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/7/2025.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 198/2026/HS-ST
Ngày 07 - 4 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kính

2. Bà Trần Thị Ngọc Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 156/2026/TLST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 984/2026/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2026, đối với bị cáo:

Dương Minh M; sinh ngày 29/4/2002, tại Thành phố Cần Thơ; nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: Ấp XY, xã BC, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Minh C; mẹ: Không rõ; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 04/8/2023, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 558/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng. Chấp hành xong ngày 28/8/2024.

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2025 đến nay. (có mặt)

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1983; nơi cư trú: Ấp E, xã TV, tỉnh Tây Ninh (địa chỉ cũ: Ấp E, xã P.T.H, huyện CT, tỉnh Long An) (đã chết ngày 26/12/2022).

Người thừa kế hợp pháp của bị hại:

1. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1960; nơi cư trú: Thôn M, xã T.K, thành phố Hải Phòng (địa chỉ cũ: Thôn M, xã M.D, huyện T.K, tỉnh Hải Dương), là mẹ ruột của bị hại. (vắng mặt)

(Người đại diện theo ủy quyền của bà X: Ông L.T.S, sinh năm 1980, theo Giấy ủy quyền lập ngày 05/9/2025, chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã T.K, thành phố Hải Phòng, số chứng thực: 1872/2025, quyển số 01/2025-SCT/CK, ĐC). (có mặt)

2. Ông L.T.S, sinh năm 1980; nơi cư trú: Ấp E, xã T.V, tỉnh Tây Ninh (địa chỉ cũ Ấp E, xã P.T.H, huyện C.T, tỉnh Long An), là chồng của bị hại. (có mặt)

3. Chị Lê Nguyễn Anh Th, sinh ngày 19/3/2009, là con ruột của bị hại.

4. Trẻ Lê Nguyễn Anh Kh, sinh ngày 04/10/2015, là con ruột của bị hại.

Cùng nơi cư trú: Ấp E, xã T.V, tỉnh Tây Ninh (địa chỉ cũ: Ấp E, xã P.T.H, huyện C.T, tỉnh Long An). (vắng mặt)

(Người đại diện hợp pháp: Ông L.T.S, sinh năm 1980, là cha ruột của chị Th và trẻ Kh). (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông D.H.H, sinh năm 1970; nơi cư trú: đường T.T.T, phường T.S(địa chỉ cũ: Phường F, quận T.B), Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 25 phút, ngày 18/12/2022, Dương Minh M điều khiển xe mô tô biển số 59P1-6xx.03 lưu thông trên đường Quốc lộ X, hướng từ đường N.V.L về cầu Ô.T. Khi đến Quốc lộ X, Ấp F, xã Đ.P, huyện B.C(cũ), Thành phố Hồ Chí Minh thì va chạm với bà Nguyễn Thị H đang đi bộ hướng từ lề phải sang lề trái theo hướng xe mô tô của M lưu thông làm xe mô tô và hai người ngã xuống đường. M được người dân đưa đi Bệnh viện huyện C.G, tỉnh Long An băng bó vết thương; còn bà Hường bị thương nặng, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện C.R. Đến ngày 26/12/2022, bà H chết tại Bệnh viện C.R.

Nhận được tin báo, Phòng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành khám nghiệm hiện trường, phương tiện, lập hồ sơ ban đầu chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh để điều tra, xử lý.

Căn cứ Kết luận pháp y về tử thi số 2311/TT.22 ngày 13/02/2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh xác định nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị H là: Chấn thương sọ não.

Tại Kết luận giám định số 955/KL-KTHS ngày 22/02/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh về dấu vết va chạm, chiều hướng va chạm trong vụ tai nạn, xác định:

“1. Dấu vết gãy vỡ, trượt xước hình vân vải các chi tiết phía trước bên trái xe mô tô biển số 59P1-6xx.03 (gồm: gương chiếu hậu, yếm, sàn để chân), có chiều từ trước về sau phù hợp do va chạm với bên trái bộ hành Nguyễn Thị H.

2. Xe mô tô chuyển động trên Quốc lộ X theo hướng từ đường N.V.L đến cầu Ô.T, bộ hành di chuyển từ lề phải sang lề trái (theo hướng xe mô tô chuyển động).

3. Phía trước bên trái xe mô tô và bên trái bộ hành là vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô và bộ hành.

4. Không có cơ sở xác định vị trí va chạm đầu tiên chiếu xuống mặt đường giữa xe mô tô và bộ hành.

5. Khi va chạm, xe mô tô chuyển động thẳng, đứng trên Quốc lộ X theo hướng từ đường N.V.L đến cầu Ô.T, bộ hành di chuyển (đi bộ) từ lề phải sang lề trái (theo hướng xe mô tô chuyển động).

6. Vết cày ký hiệu 02 phù hợp do mô tô biển số 59P1-6xx.03 tạo ra, có chiều từ đường N.V.L đến cầu Ô.T.

7. Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 59P1-6xx.03, bộ hành Nguyễn Thị H với phương tiện, vật cản khác”.

Tại Kết luận giám định số 7432/KL-KTHS ngày 12/12/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Không đủ cơ sở xác định tốc độ xe mô tô biển số 59P1-6xx.03 khi tham gia tai nạn giao thông.

Tiến hành xác minh biển báo tại khu vực xảy ra vụ tai nạn ghi nhận:

+ Tại vị trí xảy ra tai nạn là đoạn đường Quốc lộ X (chiều đường lưu thông từ đường N.V.L về cầu Ô.T) không có biển báo dành cho người đi bộ và không có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ.

+ Đoạn đường Quốc lộ X không lắp đặt biển báo cấm xe mô tô lưu thông.

Quá trình điều tra, bị cáo Dương Minh M khai nhận: Sau khi uống bia, M điều khiển xe mô tô biển số 59P3-6xx.03 lưu thông trên đường Quốc lộ X với mục đích tìm nhà người thân để nghỉ ngơi. M vừa điều khiển xe vừa quan sát hai bên đường, khi vừa quay mặt về phía trước thì thấy bà Nguyễn Thị H đang đi bộ qua đường từ lề phải qua lề trái, M phanh xe lại nhưng do khoảng cách quá gần nên đã va chạm với bà H và xảy ra tai nạn giao thông. Sau khi xảy ra tai nạn, M chỉ bị thương nhẹ.

Kết quả đo nồng độ cồn trong hơi thở đối với Dương Minh M: 0,336 mg/L.

Vật chứng tạm giữ:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu H A.B biển số 59P1-6xx.03 là phương tiện bị cáo Dương Minh M điều khiển gây tai nạn. Qua xác minh, xe có số khung RLHJF460XDY210xxx, số máy JF46E4021xxx do ông Dương Hữu H đứng tên đăng ký. M khai mượn xe này của ông H để đi công việc. Ông H khai có mối quan hệ quen biết ngoài xã hội với M và xác nhận có cho bị cáo Mẫn mượn xe biển số 59P1-6xx.03 để sử dụng. Ông H xác định xe này đã được ông tặng cho bị cáo M nên không có yêu cầu xem xét nhận lại xe.

+ 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Dương Hữu H.

+ 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Dương Minh M.

Về trách nhiệm dân sự: Ông L.T.S là chồng của bà Nguyễn Thị H, đồng thời là đại diện hợp pháp của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị hại yêu cầu bị cáo Dương Minh M bồi thường thiệt hại số tiền 130.000.000 đồng, gồm chi phí điều trị, chi phí mai táng, tổn thất tinh thần và hỗ trợ cho con của bà H học tập. Quá trình điều tra, bị cáo M chưa bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 322/CT-VKS-HS ngày 05/02/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Dương Minh M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa,

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Dương Minh M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng, đề nghị trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu H A.B biển số 59P1-6xx.03; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Dương Hữu H và 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Dương Minh M.

Về trách nhiệm dân sự, người thừa kế hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo Dương Minh M bồi thường thiệt hại số tiền 130.000.000 đồng, gồm chi phí điều trị, cứu chữa, chi phí mai táng cho bị hại. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của người thừa kế hợp pháp của bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định:

Khoảng 15 giờ 25 phút, ngày 18/12/2022, bị cáo Dương Minh M có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 59P1-6xx.03 lưu thông trên đường Quốc lộ X, hướng từ đường N.V.L về cầu Ô.T. Khi đến Quốc lộ X, Ấp F, xã Đ.P, huyện B.C (nay là xã H.L), Thành phố Hồ Chí Minh thì va chạm với bà Nguyễn Thị H đang đi bộ hướng từ lề phải sang lề trái theo hướng xe mô tô của bị cáo lưu thông làm xe mô tô và hai người ngã xuống đường. Hậu quả làm cho bị hại H bị chết do chấn thương sọ não.

Thời điểm xảy ra va chạm, bị cáo điều khiển xe mô tô trong tình trạng trong hơi thở có nồng độ cồn ở mức 0,336 mg/L, đồng thời do thiếu quan sát, vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, đã vi phạm khoản 8 và khoản 23 Điều 8 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2018 và 2019).

Mặc dù bị hại H đi bộ qua đường ở đoạn đường không có biển báo dành cho người đi bộ và không có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ nhưng việc bị cáo điều khiển phương tiện giao thông trong tình trạng hơi thở có nồng độ cồn do sử dụng rượu bia đã làm suy giảm khả năng nhận thức và xử lý tình huống, kết hợp với việc thiếu quan sát của bị cáo đã trực tiếp dẫn đến việc không kịp thời phát hiện và tránh va chạm với bị hại. Hành vi vi phạm của bị cáo là nguyên nhân trực tiếp, giữ vai trò quyết định dẫn đến hậu quả làm bị hại tử vong. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với hậu quả do hành vi của mình gây ra.

Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” như sau:

1/ Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

...

2/ Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

…

b/ Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác.

...

5) Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù hậu quả chết người xảy ra là ngoài ý muốn của bị cáo nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông. Xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này, năm 2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, Hội đồng xét xử cũng xem xét làm căn cứ quyết định mức hình phạt phù hợp với nhân thân bị cáo.

Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận. Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại cũng có một phần lỗi nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì bị cáo còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, cũng không có chức vụ nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của những người thừa kế của bị hại là ông L.T.S yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 130.000.000 đồng, gồm chi phí điều trị, cứu chữa, chi phí mai táng cho bị hại. Xét thấy, yêu cầu của phía bị hại là có căn cứ và phù hợp, cũng như được bị cáo đồng ý, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận buộc bị cáo bồi thường cho phía bị hại số tiền trên theo quy định tại Điều 591 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về xử lý vật chứng:

- Xe mô tô hiệu H A.B, biển số 59P1-6xx.03 là phương tiện do bị cáo điều khiển tham gia giao thông và vi phạm dẫn đến hậu quả gây chết người đối với bị hại. Qua điều tra tra xác định xe này do ông Dương Hữu H đứng tên đăng ký và giao cho bị cáo sử dụng. ông H xác định đã tặng cho bị cáo xe này và không có yêu cầu nhận lại xe. Xét đây là ý chí tự nguyện và quyền tự định đoạt của đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Xét thấy, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp lỗi vô ý, xe mô tô biển số 59P1-6xx.03 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Dương Hữu H là tài sản do bị cáo quản lý sử dụng hợp pháp nên Hội đồng xét xử trả lại xe cho bị cáo. Trường hợp các bên có tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu, sử dụng xe biển số 59P1-6xx.03 thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

- 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Dương Minh M là những giấy tờ thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại các điều 23, 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Dương Minh M 04 (bốn) năm tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/7/2025.

- Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điều 357, 468 và 591 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Dương Minh M bồi thường số tiền 130.000.000 (một trăm ba mươi triệu) đồng cho những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị hại gồm bà Nguyễn Thị Xiêm, ông L.T.S, chị Lê Nguyễn Anh Th và trẻ Lê Nguyễn Anh Kh (bà X, chị Th, trẻ Kh có người đại diện hợp pháp là ông L.T.S).

Thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021 và 2025).

Trả lại cho bị cáo Dương Minh M:

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu H A.B, biển số 59P1-6xx.03, số khung RLHJF460XDY210xxx, số máy JF46E4021xxx.

+ 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Dương Hữu H và 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Dương Minh M.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/11/2025, tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh).

- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2021 và 2025); Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Dương Minh M nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 6.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, những người thừa kế hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ