- Tranh chấp gì? án hình sự — "Yuan Chih W - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 22 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 198/2026/HS-PT Ngày: 31/3/2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên.
Các Thẩm phán: 1. Bà Nguyễn Thị Hà
2. Ông Vũ Hoài Nam
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Bà Trần Nguyễn Phương Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 03 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 89/2026/TLPT-HS
ngày 06/02/2026 đối với bị cáo Yuan Chih W do có kháng cáo của bị cáo đối
với Bản án hình sự sơ thẩm số 166/2025/HS-ST ngày 26/12/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Yuan Chih W, sinh năm 1979 tại Đ, Trung Quốc; nơi đăng ký
thường trú: Đ, Trung Quốc; nơi ở tại Việt Nam: Căn hộ HR1B-36.05 chung cư
E, số 107 đường N, phường T, Quận A (nay là phường T), Thành phố Hồ Chí
Minh; quốc tịch: Đài Loan, Trung Quốc; dân tộc: Không rõ; tôn giáo: Không;
nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: Không rõ; họ và tên cha: Yuan Ren
C, sinh năm 1932; họ và tên mẹ: Jhang Su J, sinh năm 1950; Bị cáo khai không
có tiền án, tiền sự; Bị cáo bị tạm từ ngày 09/01/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt
tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Yuan Chih W: Các luật sư Hà H, Thượng
Hoàng P, Văn phòng luật sư Hà H và cộng sự bào chữa cho bị cáo Yuan Chih W
(Luật sư H vắng mặt, luật sư P có mặt).
Người phiên dịch: Bà Phùng Danh K, phiên dịch tiếng Trung Quốc cho bị
cáo Yuan Chih W (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 01 giờ ngày 05/01/2025, Tổ công tác gồm Phòng Cảnh sát điều tra tội
phạm về ma túy Công an Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận A và Công an phường Tân Thuận Tây, Quận A - nay là phường Tân Thuận, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra căn hộ HR Chung cư E, số 107 đường N, phường T, Quận A - nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh có Yuan Chih W và Chen Yi H1 đang lưu trú, phát hiện Yuan Chih W có dấu hiệu sử dụng chất ma túy nên Tổ công tác lập biên bản ghi nhận sự việc. Kết quả xét nghiệm chất ma túy, Yuan Chih W dương tính chất KET.
Cùng ngày 05/01/2025, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Yuan Chih W tại
căn hộ nêu trên, thu giữ trên tủ lạnh ở khu vực bếp 01 khay nhựa màu xanh; 01 thẻ kim loại dính chất bột màu trắng, là ma túy có khối lượng 0,1336 gam Ketamine; 02 gói nylon chứa tinh thể, là ma túy có khối lượng 41,9446 gam Ketamine và nhiều đồ vật có liên quan.
Lúc 17 giờ 50 phút ngày 06/01/2025, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Chen
Yi H1 tại căn hộ 504 nhà số X đường số X, phường T, thành phố T - nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không có đồ vật, tài liệu liên quan đến hành vi phạm tội.
Vật chứng là ma túy thu giữ của Yuan Chih W đã được Phòng Kỹ thuật
hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành giám định và xác định khối lượng, chủng loại ma túy như đã nêu trên tại Kết luận giám định số 1384/KL-KTHS ngày 14/01/2025.
Kết quả điều tra xác định: Ngày 19/12/2024, Yuan Chih W nhập cảnh vào
Việt Nam để khảo sát thị trường kinh doanh (visa có thời hạn từ ngày 19/12/2024 đến ngày 18/3/2025). Yuan Chih W nhờ Chen Yi H1 (nhân viên của W) thuê căn hộ HR1B-36.05 Chung cư E, số 107 đường N, phường T, Quận A - nay là phường T, Thành phố H, để lưu trú. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Yuan Chih W khai ngày 26/12/2024, Wei nhờ Ye Hsiang E (quốc tịch Đ, T, không rõ lai lịch) đặt mua giúp ma túy, loại Ketamine với giá 50.000 Đài, để sử dụng. Nhưng tại phiên tòa, bị cáo Yuan Chih W khai nhận 50.000 Đài tệ này là bị cáo chuyển khoản để trả lương tháng cho Ye Hsiang E. Số ma túy có ở căn hộ là do trước đó Ye Hsiang E đã mua và để lại trong căn hộ trước khi trở về Đài Loan. Khi Yuan Chih W đến căn hộ để ở thì Ye Hsiang E đã về nước và có gọi điện thoại nói rõ số ma túy cất để nhằm mục đích cho Yuan Chih W sử dụng. Sau đó, Yuan Chih W đã sử dụng ma túy một mình được 02 lần và cất giấu ma túy còn lại trên tủ lạnh ở khu vực bếp trong căn hộ và bị phát hiện thu giữ như trên. Bị cáo Yuan Chih W cất giấu ma túy là nhằm mục đích sử dụng, những người ở chung nhà không biết bị cáo cất ma túy. Ye Hsiang E đã về Đài Loan và bị cáo không biết Ye Hsiang E hiện nay đang ở đâu.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo Yuan Chih W khai nhận hành vi
như trên, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 166/2025/HS-ST ngày 26/12/2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực A, Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
Căn cứ vào điểm l Khoản 2 Điều 249, Điều 38, điểm s Khoản 1 Điều 51
Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Yuan Chih W 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép
chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2025.
Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ
nộp án phí và quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/01/2026, bị cáo Yuan Chih W xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
Bị cáo Yuan Chih W giữ nguyên nội dung kháng cáo xin xem xét giảm nhẹ
hình phạt.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa đưa ra ý kiến phát biểu:
Sau khi xem xét tất cả lời khai, tình tiết trong hồ sơ vụ án, nhận thấy bản án
sơ thẩm đã tuyên bị cáo Yuan Chih W phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
túy” theo điểm l Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội,
không oan sai. Cấp sơ thẩm xử phạt 05 (năm) năm tù là mức đầu khung hình
phạt. Tại phiên tòa bị cáo không cung cấp được các tài liệu giảm nhẹ nào khác.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; Giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Yuan Chih W trình bày:
Thống nhất về tội danh và điều khoản truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng
xét xử xem xét số ma túy thu giữ không phải do bị cáo mua về để cất giấu sử
dụng mà của nhân viên của bị cáo để lại khi về nước. Bị cáo phạm tội lần đầu,
nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, nuôi cha mẹ lớn tuổi nên đề nghị áp dụng
khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP của Hội
đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo thống nhất lời bào chữa của Luật sư, không tranh luận bổ sung.
Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành
phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực A – TP.HCM, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân Khu vực A – TP.HCM, Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, Luật sư không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, căn cứ vào tài liệu có trong
hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo đã có đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 05/01/2025, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Yuan Chih W phát hiện bị
cáo có hành vi cất giữ, cất giấu 42,0782 gam ma túy loại Ketamine tại căn hộ HR1B-36.05 Chung cư E, số 107 đường N, phường T, Quận A (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) nhằm mục đích để sử dụng trái phép chất ma túy.
Hành vi của bị cáo Yuan Chih W đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất
ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm l Khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội danh, điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo kháng cáo xin xem xét giảm nhẹ hình
phạt nhưng không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Tòa án cấp sơ thẩm xem xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xử bị cáo mức án 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi bị cáo đã thực hiện nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Do không chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc
thẩm.
Các vấn đề khác không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp
luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Yuan Chih W; Giữ nguyên bản
án hình sự sơ thẩm số 166/2025/HS-ST ngày 26/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực A - Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Căn cứ vào điểm l Khoản 2 Điều 249, Điều 38, điểm s Khoản 1 Điều 51
Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Yuan Chih W 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép
chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2025.
3. Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và căn cứ Điều 22 và
23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí toà án.
Bị cáo Yuan Chih W phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí phúc
thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; (1) - TAND KVA – TP.HCM (1) - VKSND Tp.HCM; (3) - VKSND KVA – TP.HCM; (1) - P.PV06 – CA Tp.HCM; (1) - P. THADS KVA – TP.HCM; (1) - Bị cáo; (1) - Trại giam; (1) - Luật sư; (2) - Công an TP. Hồ Chí Minh; (1) - Cơ quan THAHS; (1) - Sở Tư pháp; (1) - Lưu: VT, THS, hồ sơ. (26) (6) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên |