vanban.org

Bản án 198/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Thu H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn văn Q. 2. Về con chung: Ông Nguyễn Văn Q được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) con chung là Nguyễn Minh K, sinh ngày 24 tháng 6 năm 2014 và Nguyễn Ngọc Phương A, sinh ngày 17 tháng 8 năm 2017. Ghi nhận cho ông Nguyễn Văn Q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H-Q"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Thu H.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 198/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 6 - 2026
V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hữu Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Huỳnh Mẫn Xuyên;

Ông Nguyễn Văn Dương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Cẩm Giang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 - Cần Thơ.

Ngày 10 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 203/2026/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2026, về tranh chấp ly hôn và nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 175/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2026, và Quyết định hoãn phiên tòa số: 132/2026/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1988

Địa chỉ: ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ. Có yêu cầu vắng mặt.

- Bị đơn: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1991

Địa chỉ: ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện xin ly hôn, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:

Nguyên đơn và bị đơn là ông Nguyễn Văn Q tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2013, có đăng ký kết hôn.

Vợ chồng sống chung hạnh phúc đến năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bị đơn có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, dẫn đến bỏ bê gia đình, nguyên đơn và gia đình đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng bị đơn vẫn không thay đổi. Do đó, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2026 cho đến nay.

Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Minh K, sinh ngày 24 tháng 6 năm 2014 và Nguyễn Ngọc Phương A, sinh ngày 17 tháng 8 năm 2017. Hiện đều do bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với bị đơn; về con chung: Đồng ý giao cả hai con chung cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng; về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Bị đơn là ông Nguyễn Văn Q vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không có lời trình bày.

- Tại các biên bản ghi nhận ý kiến con chung cùng ngày 28 tháng 4 năm 2026, các con chung của nguyên đơn và bị đơn là Nguyễn Minh K và Nguyễn Ngọc Phương A đều trình bày nguyện vọng muốn sống chung với bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn và nuôi con, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng hay do trở ngại khách quan; nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Xuất phát từ mâu thuẫn vợ chồng, nguyên đơn và bị đơn đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2026 cho đến nay, từ lúc ly thân đến nay các đương sự không tìm gặp để hàn gắn hôn nhân, mà bỏ mặc vợ chồng để sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án bị đơn không có mặt để trình bày ý kiến có mong muốn đoàn tụ hay không, chứng minh bị đơn cũng không mong muốn níu kéo quan hệ hôn nhân. Từ đó cũng đủ thấy hôn nhân giữa các đương sự đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn. [3.2] Về con chung: Xét các con chung của nguyên đơn và bị đơn đều đã được bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng từ lúc các đương sự ly thân đến nay, cuộc sống của con chung đã ổn định nên không cần thiết phải xáo trộn; đồng thời, các con chung của nguyên đơn và bị đơn là Nguyễn Minh K và Nguyễn Ngọc Phương A đều có nguyện vọng muốn sống chung với bị đơn. Do đó, cần tiếp tục ổn định cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có mặt để trình bày có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con hay không nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, mà ghi nhận cho bị đơn được quyền khởi kiện yêu cầu cấp dưỡng nuôi con bằng vụ kiện khác, nếu có phát sinh tranh chấp. [3.4] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết; bị đơn không có mặt để xác định có tài sản chung, nợ chung hay không, có yêu cầu Tòa án giải quyết hay không. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, mà ghi nhận cho các đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn bằng vụ kiện khác nếu có tài sản chung và nợ chung.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Thu H.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn văn Q.

1.2. Về con chung: Ông Nguyễn Văn Q được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) con chung là Nguyễn Minh K, sinh ngày 24 tháng 6 năm 2014 và Nguyễn Ngọc Phương A, sinh ngày 17 tháng 8 năm 2017. Ghi nhận cho ông Nguyễn Văn Q được quyền khởi kiện yêu cầu cấp dưỡng nuôi con bằng vụ kiện khác, nếu có phát sinh tranh chấp. Ông Nguyễn Văn Q cùng các thành viên khác trong gia đình không được cản trở bà Nguyễn Thị Thu H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.

1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, không xem xét.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004899 ngày 16 tháng 3 năm 2026 của Thi hành án dân sự thành phố C thành án phí, không ai phải nộp thêm.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ