- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật s…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 226/2024/HS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương như sau:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 198/2024/HS-PT Ngày 19-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Thẩm phán: Ông Lê Sỹ Trứ;
Ông Đặng Văn Chum.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 206/2024/TLPT-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn L. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 226/2024/HSST ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1996 tại tỉnh Lâm Đồng, số CCCD: 068096006308; nơi cư trú: xóm N, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang; tạm trú: nhà không số, T, ấp E, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1962; chung sống như vợ chồng với Lê Thị Kim N, sinh năm 2000 và có 01 người con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 02 người đại diện hợp pháp của bị hại và 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, do không có kháng cáo, không bị kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn L có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 do Sở Giao thông vận tải Thành phố H cấp. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 08/01/2022, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vison màu đỏ đen, biển số: 68L1-295.40 lưu thông từ hướng đường T về hướng đường M - T trên đường L nhưng lưu thông ngược chiều. Khi L điều khiển xe mô lưu thông đến địa chỉ khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì chuyển hướng rẻ phải băng qua đường, do thiếu chú ý quan sát, lưu thông không đúng phần đường quy định đã va chạm với xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đỏ đen, biển số: 51R4-5012 do ông Phạm Thanh L1 điều khiển lưu thông đi đúng chiều, đúng phần đường quy định dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả, ông L1 bị thương nặng được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B cấp cứu, sau đó tử vong.
Sau khi tai nạn giao thông xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, kết quả như sau:
Hiện trường bị xáo trộn một phần do nạn nhân được đưa đi cấp cứu, hiện trường là đường Lê Thị Trung đoạn từ hướng M - T về hướng T rộng 10,30m được trải nhựa phẳng, thẳng chia hai chiều lưu thông bởi vạch sơn trắng đứt quãng ở giữa, chiều về đường T rộng 5,10m và chiều ngược lại rộng 5,20m.
Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn: lấy trụ điện số 34 trên vỉa hè lề phải làm cột mốc; lấy mép đường của chiều đường về đường T làm chuẩn.
Xe mô tô biển số: 51R4 - 5012 ngã nghiêng bên phải, trên làn đường đi về T, trục bánh trước cách mép phải là 4,70m và cách trụ điện số 34 là 7,90m, trục bánh sau xe cách mép đường bên phải là 4,30m.
Vết cày xe mô tô biển số: 51R4 - 5012 dài là 1,50 m, đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 4,30m và cách đầu vết cày xe mô tô biển số: 51R4-5012 là 1,10m, cuối vết cày nằm trên làn đường đi hướng M - T và cách mép chuẩn là 7,30m.
Vết cày xe mô tô biển số: 68L1-295.40 dài 2,70m, đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 3,90 m, cuối vết cày nằm ở gác chân trước bên trái.
Xe mô tô biển số biển số: 68L1-295.40 ngã nghiêng bên phải trên làn đường hướng về M - T Trục trước xe cách mép chuẩn là 6,50m và cách trục sau xe mô tô biển số: 51R4-5012 là 2,80m, trục bánh sau xe cách mép chuẩn là 7,30m.
Vết cày dài 1,80m của xe mô tô biển số: 68L1-295.40, đầu vết cày cách mép chuẩn là 6,60m và cách đầu vết cày xe mô tô biển số: 68L1-295.40 là 0,50m, điểm cuối vết cày nằm ngay gác chân sau bên phải xe mô tô biển số: 68L1 - 295.40.
Vết cày dài 4,80m của xe mô tô không rõ biển số, đầu vết cày cách mép chuẩn là 7,90m và cách trục sau xe mô tô biển số: 68L1-295.40 là 0,80m, cuối vết cày cách mép chuẩn là 7,90m hướng về đường M - T
Vết máu nạn nhân nằm cách mép chuẩn là 4,70m và cách trục trước xe mô tô biển số: 51R4-5012 là 3,70m.
- Kết quả khám nghiệm phương tiện:
Xe mô tô biển số 51R4-5012 để lại vết do tai nạn: chảng ba cong về sau; niềng bánh trước cong móp, biến dạng; vỏ lốp trước bị mài mòn; bể toàn bộ cụm đầu đèn phía trước và ốp nhựa; đầu tay cầm phải bị mài mòn kích thước 2x2cm; dè trước bên phải bị bể; đầu chân thắng bị mài mòn; Đầu gác chân trước phải bị mài mòn kích thước 3x1cm; đầu gác chân sau phải bị mài mòn kích thước 3x2cm; mặt vỏ bánh sau bị mài mòn.
Xe mô tô biển số: 68L1-295.40 để lại dấu vết do tai nạn: toàn bộ ốp nhựa phía sau trái bị bể, sút rời, khung sườn phía trong trầy bay bụi; gác chân sau trái gãy rời; ốp nhựa phía dưới gác chân trước trái bị sút rời, bể một phần; ốp nhựa mặt trước trái bị sút rời; cụm đèn tín hiệu trước trái bị bể; ốp nhựa bên trái bể, sút rời; thân chân chống nghiêng bên trái bị trầy xước kích thước 19x3cm; ốp nhựa phía dưới trái yên xe dính sơn màu đỏ và mài mòn kích thước 9x1,5cm; yên xe bị trầy, dính bụi kích thước 23x6cm; ốp nhựa đầu đèn bị sút rời; đầu tay cầm phải bị mài mòn kích thước 2,5x2cm; đầu tay thắng phải bị mài mòn kích thước 1x1cm; mặt dưới gác chân sau bên phải bị mài mòn kích thước 5x2cm.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 68/GĐPY ngày 12/01/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận nạn nhân Phạm Thanh L1 như sau: bầm tụ máu dưới da cơ vùng chẩm, tụ máu dưới màng cứng, xuất huyết lan tỏa 2 bán cầu đại não, tiểu não, dập não; nứt xương sàn sọ.
Nguyên nhân tử vong là do: chấn thương sọ não, nứt xương hộp sọ, dập não.
Tại Kết luận giám định cơ học số 107/KL-KTHS(CH) ngày 10/3/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
Dấu vết va chạm hai phương tiện là dấu vết trượt xước cao su ở mặt lăn lốp, móp biến dạng bên trái vành đúc bánh trước, có chiều hướng từ mặt lăn vào trục và trượt xước, vỡ khuyết ốp nhựa bên trái đầu xe mô tô biển số: 51R4 - 5012, có chiều hướng từ trước ra sau phù hợp với dấu vết trượt xước, bám dính chất màu đen (dạng cao su) ở mặt ngoài chân chống nghiêng và vỡ khuyết ốp nhựa bệ đỡ chân, gãy rời gác chân sau bên trái và trượt xước, vỡ khuyết ốp nhựa bên trái thân xe mô tô biển số: 68L1-295.40, có chiều hướng từ trước về sau.
Cơ chế hình thành dấu vết va chạm là phần phía trước bên trái xe mô tô biển số: 51R4 - 5012 va chạm vào phần phía trước bên trái xe mô tô biển số: 68L1-295.40 theo hướng ngược chiều (như mục I phần V) làm hai xe đổ ngã va chạm với mặt đường, tạo ra dấu vết trên các phương tiện.
Vị trí va chạm đầu tiên chiếu xuống mặt đường là khu vực giữa hai xe mô tô tại hiện trường.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) mô tô nhãn hiệu Honda Vison màu đỏ đen, biển số: 68L1-295.40 và 01 (một) mô tô nhãn hiệu Honda màu đỏ đen, biển số: 51R4-5012.
Về xử lý vật chứng thu giữ:
Đối với 01 (một) mô tô nhãn hiệu Honda Vison màu đỏ đen, biển số: 68L1-295.40 do Nguyễn Văn L điều khiển gây tai nạn giao thông. Quá trình điều tra, xác minh được biết xe mô tô trên của bà Lê Thị Kim N (chung sống như vợ chồng với L) đứng tên trên giấy đăng ký xe nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại xe cho bà N.
Đối với 01 (một) mô tô nhãn hiệu Honda màu đỏ đen, biển số: 51R4-5012 do bị hại Phạm Thanh L1 điều khiển xảy ra tai nạn giao thông. Quá trình điều tra, xác định ông Trần Khởi N1 đứng tên trên giấy đăng ký xe, ông N1 đã bán xe mô tô cho L1 nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại xe mô tô trên cho gia đình bị hại (do bà Phạm Thị Cẩm B đại diện nhận).
Người đại diện hợp pháp của bị hại xác định: bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 80.000.000 đồng nên gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Gia đình bị hại xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mặt khác, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại chiếc xe mô tô biển số: 51R4 - 5012 cho gia đình bị hại nên không có yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Kim N khai nhận chiếc xe mô tô biển số 68L1-295.40 do bà Lê Thị Kim N đứng tên trên giấy đăng ký xe nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại xe cho bà N nên bà N không có ý yêu cầu gì.
Cáo trạng số 227/CT-VKS ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 226/2024/HS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 47 và Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm: ngày 19 tháng 9 năm 2024, bị cáo Nguyễn Văn L có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: tội danh, điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Hội đồng xét xử sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có căn cứ nên kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L thực hiện trong thời hạn luật định, hợp lệ nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định như sau: khoảng 18 giờ 30 phút ngày 08/01/2022, tại đường L thuộc khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô biển số: 68L1-295.40 lưu thông không đúng phần đường quy định, đi ngược chiều, chuyển hướng rẻ phải không đảm bảo an toàn, thiếu chú ý quan sát đã va chạm xe mô tô biển số: 51R4-5012 do Phạm Thanh L1 điều khiển lưu thông đúng phần đường, chiều đường quy định dẫn đến tai nạn giao thông, hậu quả ông L1 tử vong. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L đã vi phạm vào khoản 1 Điều 9 và khoản 2 Điều 15 của Luật Giao thông đường bộ.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn giao thông tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho người tham gia giao thông, gây thiệt hại tính mạng của người khác, hành vi của bị cáo cần phải được xét xử nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Mức hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ mới, trong vụ tai nạn bị cáo có lỗi chính gây ra hậu quả chết người, việc không cách ly bị cáo ra ngoài xã hội sẽ không nghiêm và không đáp ứng được công tác phòng, chống tội phạm tại địa phương nên không đủ điều kiện cho bị cáo hưởng án treo theo Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Án phí hình sự phúc thẩm:
Yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 226/2024/HS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương như sau:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
3. Bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (Vụ Giám đốc kiểm tra 1); - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương; - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Bình Dương; - Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương (2); - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương; - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương; - Những người tham gia tố tụng; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú (thay văn bản thông báo); - Lưu VP (3), hồ sơ vụ án, NTTT, 17. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |