vanban.org

Bản án 198/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 14/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố: Các bị cáo Bạc Cầm P và Quàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Bạc Cầm P 02 năm 04 tháng tù (hai năm bốn tháng tù) - Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bạc Cầm Phương, Quàng Văn Thinh tàng trữ ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 198/2023/HSST
Ngày 14 tháng 9 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Viễn, Lò Văn Thôn

- Thư ký phiên toà:

Bà Hà Thị Phương Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:

Ông Trần Thanh Quân - Kiểm sát viên .

Ngày 14 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 195/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2023/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 8 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Bạc Cầm P - Sinh 20/8/1987, tại huyện T, tỉnh Sơn La.; Nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện Thuận Châu, Sơn La; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ giáo dục phổ thông: 12/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ, đảng phái: Không; Con ông Bạc Cầm C, con bà Lường Thị H; Bị cáo có vợ là Lò Thị N và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2022).

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ, giam từ ngày 30/5/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Quàng Văn T - Sinh ngày 02/3/1981, tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ giáo dục phổ thông: 5/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ, đảng phái: Không; Con ông Quàng Văn P, con bà Quàng Thị M; Bị cáo có vợ là Quàng Thị Q và có 02 con đều đã trưởng thành.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ, giam từ ngày 30/5/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi liên quan:

Chị Lò Thị N - Sinh năm 1991; Nơi cư trú: Bản Chiềng Ly, xã Chiềng Ly, huyện Thuận Châu, Sơn La. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 35 phút ngày 29/5/2023 tổ công tác Công an xã Chiềng Phung, huyện Sông Mã làm nhiệm vụ tại bản Nuốt Còn, xã Chiềng Phung, huyện Sông Mã phát hiện 02 người đàn ông đang đi cùng trên 01 mô tô theo hướng từ bản Nuốt Còn, xã Chiềng Phung, huyện Sông Mã về hướng bản Cát, xã Co Mạ, huyện Thuận Châu có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma túy, tổ công tác đã dừng xe kiểm tra, người điều khiển xe khai nhận là Bạc Cầm P sinh năm 1987, nơi cư trú bản Chiềng Ly, xã Chiềng Ly; người ngồi sau xe là Quàng Văn T sinh năm 1981, nơi cư trú bản Cát, xã Co Mạ, cùng huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Qua kiểm tra phát hiện tại lòng bàn tay phải của T có 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa 09 viên nén hình tròn màu hồng (T và P khai nhận là Hồng phiến) mục đích mua về cùng nhau sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ và niêm phong vật chứng, tạm giữ của Phương 01 xe mô tô Honda Wave RSX biển kiểm soát 26B1-299.57, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S; tạm giữ của Thinh 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A1K.

Ngày 30/5/2023 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, tiến hành cân tịnh khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định, kết quả: 09 viên nén màu hồng có khối lượng 0,83 gam, trích 02 viên có khối lượng 0,18 gam làm mẫu giám định ký hiệu T, còn lại 07 viên có khối lượng 0,65 gam vật chứng lưu kho ký hiệu L.

Kết luận giám định số 1242/KL-KTHS ngày 31/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: "Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine, tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,18 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,83 gam, loại Methamphetamine".

Quá trình điều tra các bị can khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 29/5/2023, P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 26B1-299.57 từ nhà ở bản Chiềng Ly, xã Chiềng Ly đến nhà Quàng Văn T ở bản Cát, xã Co Mạ, cùng huyện Thuận Châu chơi, khi đi Phương mang theo số tiền 195.000 đồng, khi ngồi chơi P rủ T góp tiền mua ma túy cùng sử dụng thì T đồng ý, P và T thỏa thuận mỗi người góp 75.000đ (T cầm cất giữ), còn 120.000đ của P vẫn cất giữ trong túi quần. P điều khiển xe mô tô chở T đến bản Pàn, xã Nậm Ty, huyện Sông Mã dừng lại ăn cơm hết 120.000đ tiền của P. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, P và T đến bản Huổi Tòng, xã Nậm Ty thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông, qua trò chuyện T hỏi và mua được của người này 150.000đ Hồng phiến, sau khi mua được ma tuý T cầm ở lòng bàn tay trái ngồi sau xe P điều khiển đi về. Đến 22 giờ 35 phút khi về đến bản Nuốt Còn, xã Chiềng Phung thì bị tổ công tác Công an xã Chiềng Phung làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang thu giữ và niêm phong vật chứng, tạm giữ phương tiện và 02 điện thoại di động.

Cáo trạng số 146/CT-VKSSM ngày 23 tháng 8 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Bạc Cầm P và Quàng Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đối với người đàn ông các bị can khai nhận bán ma túy cho bị can, quá trình điều tra, do các bị can khai không biết tên, tuổi cụ thể. Đây là lần đầu tiên các bị can mua ma túy của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã không có căn cứ để mở rộng điều tra.

Tại phiên toà kiểm sát viên thực hiện quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bạc Cầm P từ 02 năm - 02 năm 06 tháng tù. Xử phạt Quàng Văn T từ 01 năm 10 tháng - 02 năm 04 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại và các vật chứng liên quan. Trả lại cho các bị cáo điện thoại di động. Trả lại cho người có quyền lợi liên quan chiếc xe mô tô.

Miễn án phí hình sự cho bị cáo Quàng Văn T, buộc bị cáo Bạc Cầm P chịu án phí theo quy định. Tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo, người có quyền lợi liên quan.

Tài liệu trong hồ sơ và tại phiên toà người có quyền lợi liên quan chị Lò Thị N trình bày: Chị là vợ bị cáo Bạc Cầm P, chiếc xe mô tô biển kiểm soát 26B1-299.57 mà bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện tội phạm là tài sản chung của gia đình, gia đình mua vào năm 2011, đây là phương tiện duy nhất của gia đình, khi P mang xe đi mua ma tuý chị không biết. Chị đề nghị trả lại cho chị chiếc xe để làm phương tiện phục vụ sinh hoạt gia đình.

Tại phiên tòa các bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận, khi được nói lời sau cùng các bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tình tiết định tội: Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Các bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 29/5/2023; Vật chứng bị thu giữ; Kết luận giám định số 1242/KL-KTHS ngày 31/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung đối với các bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội; Biên bản ghi lời khai của người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 29/5/2023 các bị cáo Bạc Cầm P và Quàng Văn T có hành vi cất giấu 0,83gam ma tuý, loại chất Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Hành vi các bị cáo thực hiện đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện truy tố và Tòa án nhân dân huyện xét xử các bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai cho các bị cáo.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, các bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của các bị cáo không chỉ gây nguy hại cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, mà còn ảnh hưởng sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của các bị cáo:

- Về các tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng.

- Về các tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong vụ án này bị cáo Bạc Cầm Pcó vai trò chính đã chủ động rủ rê, cùng góp tiền và dùng phương tiện của mình chở T cùng đi mua ma tuý; bị cáo Quàng Văn T là đồng phạm với vai trò giúp sức - Áp dụng Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, khối lượng ma túy các bị cáo tàng trữ, vai trò của các bị cáo để quyết định một mức hình phạt phù hợp, nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác định được gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Số ma tuý còn lại sau giám định và các vật chứng liên quan cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 26B1-299.57 bị cáo Bạc Cầm P sử dụng làm phương tiện thự hiện tội phạm, xác định được chiếc xe là tài sản chung của gia đình, khi bị cáo mang xe đi thực hiện tội phạm vợ bị cáo không biết, mặt khác đây là phương tiện duy nhất của gia phục vụ sinh hoạt và lao động sản xuất, nên cần trả lại cho vợ bị cáo quản lý, sử dụng. Đối với hai chiếc điện thoại di động, quá trình điều tra xác định được các bị cáo không sử dụng trong việc phạm tội, nên cần trả lại cho các bị cáo.

Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông các bị cáo khai nhận bán ma túy cho các bị cáo, quá trình điều tra do các bị cáo không biết được đối tượng cụ thể, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã không có căn cứ để mở rộng điều tra làm rõ là đảm bảo quy định.

Về án phí: Bị cáo Quàng Văn T là người dân tộc thiểu số sống ở nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên các bị cáo được miễn án phí theo quy định. Bị cáo Bạc Cầm P phải chịu án phí theo quy định

Về đề nghị của Kiểm sát viên: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố: Các bị cáo Bạc Cầm P và Quàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Xử phạt bị cáo Bạc Cầm P 02 năm 04 tháng tù (hai năm bốn tháng tù) - Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2023.

- Xử phạt bị cáo Quàng Văn Th 02 năm 02 tháng tù (hai năm hai tù) - Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 0,65 gam Methamphetamine, 01 túi nilon màu trắng (túi chứa 0,65 gam Methamphetamine), 01 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã được bóc mở.

(các vật chứng được đựng trong một phong bì do Bưu điện Việt Nam phát hành được niêm phong, giấy dán niêm phong có mã số 061709).

- Trả lại cho bị cáo Bạc Cầm P 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S.

- Trả lại cho bị cáo Quang Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A1K.

- Trả lại cho người có quyền lợi liên quan Lò Thị N 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 26B1-299.57.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 138/QĐ-VKSSM ngày23/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã và Biên Bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 1248/2023 giữa Công an huyện Sông Mã và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

3. Về án phí:

- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Miễn nộp khoản tiền án phí hình sự cho bị cáo Quàng Văn T.

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo Bạc Cầm P chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/9/2023)./.

Cỡ chữ