- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Thị T phạm tội TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đinh Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 198/2023/HS-ST Ngày 11/09/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đại
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Lưu và Nguyễn Trung Giang.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Chiêm - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 09 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 203/2023/TLST- HS ngày 24 tháng 08 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 199/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 08 năm 2023, đối với bị cáo:
Đinh Thị T, sinh năm 1993; HKTT: Khu B, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Xuân M, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Chồng: Nguyễn Thái Q, sinh năm 1973 (Đã ly hôn); Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/06/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an thành phố B, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Buổi sáng ngày 06/6/2023, do có nhu cầu mua ma túy về để bán kiếm lợi nhuận phục vụ sinh hoạt cá nhân, Đinh Thị T đã đi xe buýt từ nhà ở khu B, phường V, thành phố B đến thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi xuống xe buýt, T không nhớ địa chỉ cụ thể nào ở thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. T gặp một người thanh niên không quen biết, hỏi mua 200.000 đồng ma túy tổng hợp được 01 túi nilong màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu đỏ. Mua được ma túy, T đi xe buýt về thành phố B. Đến khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, khi đang đi bộ ở đường T, phường T, thành phố B, T gặp một thanh niên không quen biết, sau này T mới biết tên là Nông Văn T2. T2 hỏi mua 400.000 đồng ma túy “đá”, “ngựa” của T, T đồng ý. T2 đưa cho T 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, Thảo cầm tiền ở tay phải rồi lấy 01 túi nilong màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu đỏ vừa mua được đưa cho T2. T2 cầm túi nilong màu trắng ma túy ở tay phải. Đúng lúc này đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố B đến kiểm tra phát hiện, lập biên bản kiểm tra và thu giữ vật chứng.
Vật chứng thu giữ: T3 tại tay phải của T2 01 túi nilong màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu đỏ. Cơ quan Công an đã tiến hành niêm phong chất tinh thể màu trắng và viên nén màu đỏ trên vào phong bì thư ký hiệu M.
T3 tại tay phải của Đinh Thị T 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng. Cơ quan Công an đã tiến hành niêm phong tờ tiền trên vào phong bì thư ký hiệu M.
Cùng ngày 06/6/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đinh Thị T, tại khu B, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Kết quả khám xét, Công an không thu giữ thêm tài liệu, đồ vật gì.
Tại bản Kết luận giám định số 1192/KL-KTHS ngày 08/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 có khối lượng 0,0335 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.
01 (một) viên nén màu đỏ bên trong phong bì thư ký hiệu M1 có khối lượng 0,0568 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.
02 (hai) tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng bên trong phong bì thư ký hiệu M2 là thật.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Đinh Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 161/CT-VKSTPBN ngày 24/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố Đinh Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Đinh Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đinh Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Đinh Thị T từ 26 đến 30 tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2023, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định trong hai phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B. Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 400.000 đồng là tiền T và T2 mua bán ma túy mà có.
Bị cáo Đinh Thị T nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Đinh Thị T tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản kiểm tra; biên bản khám xét; phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Hồi 13 giờ 40 phút ngày 06/6/2023, tại đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố B phát hiện Đinh Thị T, sinh năm 1993; HKTT: Khu B, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh đang có hành vi bán trái phép 0,0903 gam ma túy Methamphetamine cho Nông Văn T2, sinh năm 1994; HKTT: Làng Gia, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn với số tiền 400.000 đồng nhằm mục đích để bán kiếm lợi nhuận.
Như vậy, thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của Đinh Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma tuý làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước; việc đấu tranh với các tội phạm về ma tuý hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Nhưng bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, vì hám lợi bị cáo đã đi vào con đường phạm tội. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma tuý trên địa bàn thành phố B. Chính vì vậy phải đưa ra xét xử bị cáo kịp thời và có hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Ông Đinh Xuân M bố đẻ bị cáo là bệnh binh hạng hai, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách triệm hình sự. Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh là phù hợp, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xét xử bị cáo bằng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới giúp bị cáo cải tạo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua bán ma tuý nhằm mục đích kiếm lời, lẽ ra cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, tuy nhiên xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với Nông Văn T2 là người mua ma túy của T, tuy nhiên do khối lượng ma túy T2 mua để sử dụng không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự; mặt khác, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã xác minh tại Làng G, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn không có ai có lý lịch như T2 đã khai. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho T ở khu vực thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu tiêu hủy số mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư ký hiệu M1 có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 400.000 đồng là số tiền T và T2 mua bán ma túy mà có.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Đinh Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Đinh Thị T 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ 06/06/2023. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư, có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền: 400.000 đồng (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/08/2023 giữa Công an thành phố B với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh).
Về án phí: Buộc bị cáo Đinh Thị T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Ngô Văn Lưu Nguyễn Trung Giang | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Văn Đại |