vanban.org

Bản án 198/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 21/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2;, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì thư niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước tờ tiền mạnh giá 1.000đ (một nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2;, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 198/2022/HS-ST
Ngày 21 tháng 11 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư.

Bà Thân Thị Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Nam - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 11 năm 2022 tại điểm cầu trụ sở TAND tỉnh Bắc Giang và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang. TAND thành phố Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự Thụ lý số 192/2022/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 204/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2022 Đ với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1979.

Nơi ĐKHKTT: Ấp Chà Rào, xã Thạnh Bình, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Chỗ ở hiện nay: Ngõ 82, đường Nguyễn Thị Lưu 2, phường Ngô Quyền, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 04/12.

Bố: Nguyễn Đức Đ (đã chết).

Mẹ: Lê Thị S (đã chết).

Gia đình có 02 chị em, bị can là thứ hai.

Vợ: Võ H A, sinh năm 1980.

Có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2012.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/8/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang.

(có mặt tại phiên tòa)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trịnh Anh Tiến, sinh năm1969. Địa chỉ: Phường Yên Sở, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)

*Người chứng kiến:

- Ông Nguyễn Văn Độ, sinh năm 1962; Địa chỉ: Tổ dân phố Giáp Hải, phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

- Ông Ngô Văn Đ, sinh năm 1987; Địa chỉ: Tổ dân phố Phú Mỹ 3, phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ ngày 05/8/2022 tại khu vực gần hầm cầu chui đường Nguyễn Thị Minh Khai thuộc tổ dân phố Phú Mỹ, phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang; tổ công tác Công an phường Dĩnh Kế bắt quả tang Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1979, hộ khẩu thường trú tại Ấp Chà Rào, xã Thạnh Bình, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm:

- 01 gói giấy bạc một mặt màu trắng bạc, một mặt màu trắng bên trong đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy (thu giữ tại túi quần phía trước bên phải quần Đ đang mặc khi bị bắt) được cho vào một phong bì thư ký hiệu “01” niêm phong dán kín tại chỗ.

- 01 gói loại giấy bằng tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng (một nghìn đồng), mở ra bên trong đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy (thu giữ tại nền đất gần vị trí Đ đứng khi bị bắt) được cho vào 01 phong bì thư ký hiệu “02” niêm phong dán kín tại chỗ.

Ngoài ra, Công an phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang còn thu giữ của Nguyễn Đức Đ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM biển kiểm soát 33M1-5841; 01 vỏ ốp Đ thoại màu đen bên trong đựng 01 mảnh giấy bạc; 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Đức Đ.

Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Giang đã trưng cầu giám định số ma túy thu giữ của Nguyễn Đức Đ. Kết luận giám định số 1381 ngày 10/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

“ Trong 01 phong bì ký hiệu “01” đã được niêm phong gửi giám định:

- Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) gói giấy bạc một mặt màu trắng bạc, một mặt màu trắng là ma túy, có khối lượng 0,093 gam, loại Heroin.

Trong 01 phong bì ký hiệu “02” đã được niêm phong gửi giám định:

- Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 gói bằng tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng là (một nghìn Việt Nam đồng) là ma túy, có khối lượng 0,038 gam, loại Heroin.”

Trong quá trình điều tra, Nguyễn Đức Đ khai: Khoảng 20 giờ ngày 05/8/2022, Đ điều khiển mô tô biển kiểm soát 33M1-5841 đi từ phòng trọ tại ngõ 82, đường Nguyễn Thị Lưu, phường Ngô Quyền, thành phố Bắc Giang đến khu vực gần cầu vượt cao tốc Hà Nội- Bắc Giang thuộc địa phận xã Song Khê, thành phố Bắc Giang mục đích mua ma túy để sử dụng., Đ mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy heroine với giá 100.000 đồng. Đ cất gói ma túy vào túi quần phía trước bên phải rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khi đi đến khu vực gần hầm cầu chui đường Nguyễn Thị Minh Khai, Đ dừng xe lấy gói ma túy ra chia thành hai phần, một phần để trong gói giấy bạc cất vào túi quần phía trước bên phải, số ma túy còn lại Đ để trên mặt một tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng rồi đặt trên nền đất gần vị trí Đ đang đứng và chuẩn bị lấy mảnh giấy bạc ở ốp Đ thoại ra để sử dụng ma túy thì bị công an phường Dĩnh Kế phát hiện bắt quả tang.

Về nguồn gốc chiếc xe mô tô biển kiểm soát 33M1-5841. Kết quả điều tra xác định chiếc xe này thuộc sở hữu của ông Trịnh Anh Tiến, sinh năm 1969, trú tại phường Yên Sở, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Ngày 05/8/2022, ông Tiến cho Đ mượn chiếc xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại vì Đ là công nhân làm thuê cho ông Tiến; khi cho mượn xe thì ông Tiến không biết Đ sử dụng để đi mua ma túy. Hiện ông Tiến không có yêu cầu, đề nghị gì về chiếc xe mô tô trên. Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.

Đ với người đàn ông bán ma túy cho Đ: Theo Đ khai không biết tên, địa chỉ, không nhìn rõ đặc điểm người bán ma túy nên Cơ quan điều tra không làm rõ được để xử lý.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Đ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/8/2022. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền Đ với bị cáo.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền Đ với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2;, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì thư niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước tờ tiền mạnh giá 1.000đ (một nghìn đồng).

Trả lại cho ông Trịnh Anh Tiến chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM biển kiểm soát 33M1-5841 đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức Đ 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Đức Đ.

Tịch thu tiêu huỷ 01 vỏ ốp Đ thoại màu đen bên trong đựng 01 mảnh giấy bạc;

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Giang, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về cấu thành tội phạm: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ, kết quả giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 05/8/2022 tại khu vực gần hầm chui Minh Khai, thuộc tổ dân phố Phú Mỹ, phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang, Công an phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang bắt quả tang Nguyễn Đức Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; vật chứng thu giữ gồm 0,131 gam, loại Heroine. Đ khai mua số ma túy trên mục đích để sử dụng cá nhân.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Đức Đ đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Hùng theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức Đhành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật trị an xã hội. Ma tuý là hiểm hoạ xã hội, làm sói mòn đạo đức và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Hùng có thái Đthành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, cần áp dụng các tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự Đ với bị cáo khi xem xét, quyết định hình phạt.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào được quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xét về hình phạt bổ sung: Bị cáo không nghề nghiệp ổn định, không có điều kiện kinh tế để đảm bảo thi hành án nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền Đ với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

Cần tịch thu tiêu hủy 02 phong bì thư niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước tờ tiền mạnh giá 1.000đ (một nghìn đồng).

Trả lại cho ông Trịnh Anh Tiến chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM biển kiểm soát 33M1-5841 đã qua sử dụng do không liên quan tới việc phạm tội.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức Đ 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Đức Đ.

Tịch thu tiêu huỷ 01 vỏ ốp Đ thoại màu đen bên trong đựng 01 mảnh giấy bạc;

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Đ 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/8/2022. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền Đ với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2;, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì thư niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước tờ tiền mạnh giá 1.000đ (một nghìn đồng).

Trả lại cho ông Trịnh Anh Tiến chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM biển kiểm soát 33M1-5841 đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức Đ 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Đức Đ.

Tịch thu tiêu huỷ 01 vỏ ốp Đ thoại màu đen bên trong đựng 01 mảnh giấy bạc;

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Đức Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống Đ bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

5. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND thành phố Bắc Giang;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Công an thành phố Bắc Giang;

- TAND tỉnh Bắc Giang;

- Chi cục THADS TP Bắc Giang;

- Bị cáo;

- Những người tham gia tố tụng khác;

- Lưu hồ sơ, văn phòng.

Nguyễn Văn Trường

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ