vanban.org

Bản án 198/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Xử ly hôn chị Phạm Thị Q và anh Bùi Duy Đ.

2- Về con chung: Giao cháu Bùi Phương Tr sinh ngày 29/10/2019 cho chị Phạm Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng (hiện cháu Bùi Phương Tr đang do chị Phạm Thị Q chăm sóc, nuôi dưỡng). Anh Bùi Duy Đ không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị Phạm Thị Q dối với cháu Bùi Phương Tr. Không ai được ngăn cản quyền thăm n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Quyền xin ly hôn anh Đức"
  • Tòa quyết gì? 1- Xử ly hôn chị Phạm Thị Q và anh Bùi Duy Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N, TỈNH N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 198/2021/HNGĐ-ST
Ngày 31 - 12 - 2021
V/v chị Q xin ly hôn anh Đ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Xuân Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dương Thị Vui

2. Ông Vũ mạnh Toàn

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Trọng Ích - Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh N tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Gấm - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 142/2021/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2021. Về vụ án xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2021/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 12 năm 2021, giữa:

+ Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Q - Sinh năm 1993 Địa chỉ: Xóm 16, xã Ph, huyện N, tỉnh N

+ Bị đơn: Anh Bùi Duy Đ - Sinh năm 1986 Địa chỉ: Xóm 16, xã Ph, huyện N, tỉnh N.

Tại phiên tòa có mặt chị Q, vắng mặt anh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện lập ngày 11/8/2021 cũng như lời khai của chị Phạm Thị Q trong quá trình giải quyết trình bày: Chị kết hôn với anh Bùi Duy Đ vào tháng 4/2019 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Ph, huyện N, tỉnh N Sau khi kết hôn, chị và anh Đ chung sống hòa thuận được thời gian ngắn thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là do hai bên bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong hôn nhân nên vợ chồng thường xảy ra cãi chửi nhau. Hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên giải nhưng quan hệ tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Đ không được cải thiện. Từ tháng 01/2020 đến nay chị và anh Đ đã sống ly thân nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Đ không còn nên chị xin được ly hôn anh Bùi Duy Đ. Về con chung giữa chị và anh Bùi Duy Đ có một con chung Bùi Phương Tr sinh ngày 29/10/2019, hiện đang do chị nuôi dưỡng. Nay chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tr và chị không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Về tài sản chung giữa chị và anh Bùi Duy Đ không có nên chị không yêu cầu giải quyết. Về án phí dân sự sơ thẩm, chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay anh Bùi Duy Đ vắng mặt nhưng anh Đ có lời khai trong quá trình giải quyết trình bày đúng như lời khai của chị Phạm Thị Q về quá trình kết hôn và chung sống giữa anh với chị Q. Sau khi kết hôn, anh và chị Q chung sống hòa thuận, đôi khi có bất đồng quan điểm trong cuộc sống nhưng không có mâu thuẫn gì lớn và hai bên gia đình đã khuyên giải nhưng chị Q cố chấp đã tự ý bỏ về nhà mẹ đẻ. Anh đã khuyên giải nhưng chị Q không nghe và không chấp nhận về đoàn tụ. Nay chị Q có đơn xin ly hôn anh thì quan điểm của anh không muốn ly hôn vì con chung còn nhỏ, nếu chị Q nhất quyết xin ly hôn thì tuỳ chị Q. Về con chung giữa anh và chị Phạm Thị Q có một con chung là Bùi Phương Tr sinh ngày 29/10/2019, hiện đang do chị Q nuôi dưỡng. Nếu phải ly hôn thì anh đồng ý để chị Q trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tr và anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Q, nếu chị Q không nhận nuôi thì anh xin nhận nuôi cháu Tr và không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Về tài sản chung giữa anh và chị Phạm Thị Q không có nên anh không yêu cầu giải quyết. Do điều kiện công việc bận anh không tham gia phiên tòa được nên anh đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Về tố tụng, qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm Phán thụ lý giảỉ quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56; 81; 82; 83 Luật hôn nhân gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 6; 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: xử ly hôn giữa chị Phạm Thị Q và anh Bùi Duy Đ. Về con chung: đề nghị giao cháu Bùi Phương Tr sinh ngày 29/10/2019 cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Q. Về án phí dân sự sơ thẩm đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chị Q phải nộp theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và trên cơ sở tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Bùi Duy Đ và chị Phạm Thị Q đều cư trú tại xã Ph, huyện N, tỉnh N, nay chị Q có đơn xin ly hôn anh Đ và Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa anh Bùi Duy Đ vắng mặt nhưng anh Đ đã có đơn xin xét xử vắng mặt vì vậy Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng xét xử vắng mặt anh Đ là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Phạm Thị Q và anh Bùi Duy Đ được tổ chức kết hôn vào tháng 4/2019, trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Ph, là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn chị Q và anh Đ chung sống hòa thuận được thời gian ngắn đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai bên không hợp tính nhau nên thường xảy ra cãi chửi nhau. Hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên giải nhưng quan hệ tình cảm vợ chồng giữa chị Q và anh Đ không được cải thiện. Từ tháng 01/2020 đến nay chị Q và anh Đ đã sống ly thân nhau. Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Q và anh Đ đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, nay chị Q xin được ly hôn anh Đ nên chấp nhận là phù hợp.

Về con chung: Chị Phạm Thị Q và anh Bùi Duy Đ có một con chung là cháu Bùi Phương Tr sinh ngày 29/10/2019, hiện đang do chị Q nuôi dưỡng. Nay chị Q xin nhận trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tr và không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Q và phía anh Đ cũng nhất trí nên chấp nhận là phù hợp.

Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Q và anh Bùi Duy Đ đều khai thống nhất xác định anh chị không có tài sản chung và không yêu cầu giải quyết về tài sản nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm, chị Phạm Thị Q phải nộp theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện N về việc giải quyết vụ án là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ các Điều 147; 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ các Điều 6; 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1- Xử ly hôn chị Phạm Thị Q và anh Bùi Duy Đ.

2- Về con chung: Giao cháu Bùi Phương Tr sinh ngày 29/10/2019 cho chị Phạm Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng (hiện cháu Bùi Phương Tr đang do chị Phạm Thị Q chăm sóc, nuôi dưỡng). Anh Bùi Duy Đ không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị Phạm Thị Q dối với cháu Bùi Phương Tr. Không ai được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung.

3- Án phí dân sự sơ thẩm chị Phạm Thị Q phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị Phạm Thị Q đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số: 0000606 ngày 07/10/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N. Chị Phạm Thị Q đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công klhai sơ thẩm có mặt chị Q vắng mặt anh Đ. Báo cho người có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ