vanban.org

Bản án 198/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Tuyên án 24/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lường Văn T 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã P K, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn T - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (điều 232 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 198/2019/HS-ST.
Ngày: 24/10/2019.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lường Văn Lương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Hải;

2. Ông Lò Văn Thương.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thúy Dần - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B tham gia phiên toà: Ông Hứa Ngọc Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 24/10/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 179/2019/TLHS-ST ngày 04/9/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 201/2019/QĐXXST-HS ngày 11/10/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lường Văn T; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1981 tại Điện Biên;

Nơi cư trú: Bản Đ M 2, xã P K, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lường Văn Đ (đã chết) và bà: Lường Thị Á, sinh năm 1934; có vợ là: Cà Thị Ch, sinh năm 1982 và 02 con, lớn sinh năm 2000; con nhỏ sinh 2001; tiền án: Không, tiền sự: 01 tiền sự; nhân thân: Chưa bị kết án' đã bị xử phạt vi phạm hành chính ngày 16/5/2019; ngày 03/7/2019 bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. " có mặt".

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Cà Thị Miên, sinh năm 1986 "xin vắng mặt".

- Ông Cà Văn Thanh, sinh năm 1985 "xin vắng mặt".

Địa chỉ: Bản Bánh, xã Mường Phăng, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.

Người làm chứng:

1- Ông Lò Văn Hoàn, sinh năm 1988 "xin vắng mặt";

Địa chỉ: Bản Đ M 1, xã P K, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.

2- Bà Cà Thị Chung, sinh năm 1982;"xin vắng mặt".

3- Lường Thị Hồng, sinh năm 2000"xin vắng mặt".

Đều trú tại: Bản Đ M 2, xã P K, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.

4- Hà Hữu Bằng, sinh năm 1974 "xin vắng mặt".

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lường Văn T và bà Bùi Thị Hòe sinh năm 1969 trú tại C3, xã Thanh Yên, huyện Đ B có quen biết nhau, ngày 12/5/2019 bị cáo đến cơ sở chế biến và thu mua nông, lâm sản của gia đình bà Hòe ở khu vực C2, xã Thanh Yên, huyện Đ B chơi trong lúc cả hai ngồi nói chuyện bà Hòe có nói với bị cáo: Nếu có giấy tờ của cơ quan có thẩm quyền cho phép thì về bản thu mua dây máu chó mang đến bán bà sẽ mua lại với giá 1.800đ/01kg. Mặc dù bị cáo không được các cơ quan có thẩm quyền cho phép thu mua lâm sản, nhưng do trước đó bị cáo biết người dân trong xã có bán dây máu chó với giá 1000đ/01kg, nên nảy sinh ý định về thu mua dây máu chó đem bán lại cho bà Hòe kiếm lời. Trong thời gian từ ngày 12/5/2019 đến ngày 31/5/2019 bị cáo đã nhiều lần thu mua dây máu chó đem đi bán thì bị Hạt kiểm lâm huyện Đ B phát hiện thu giữ cụ thể:

Lần 1: Từ ngày 12/5/2019 đến ngày 15/5/2019 tại nhà ở của bị cáo đã mua được 2000 kg dây máu chó với giá 2.000.000đ của những người dân không quen biết mang đến nhà bán. Tối ngày 16/5/2019 bị cáo một mình điều khiển xe ô tô BKS 27C – 023.87 chở 2000 kg dây máu chó đi bán cho bà Hòe, đến 23 giờ cùng ngày khi bị cáo điều khiển xe ô tô đi đến khu vực bản Xôm, xã P K, huyện Đ B thì bị tổ công tác của Hạt kiểm lâm huyện Đ B kiểm tra phát hiện thu giữ. Ngày 17/5/2019 Hạt kiểm lâm huyện Đ B đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 000032/QĐ – XPVPHC xử phạt bị cáo 9.000.000đ.

Lần 2: Từ ngày 17/5/2019 đến ngày 20/5/2019 tại nhà ở của mình bị cáo tiếp tục thu mua được 5.200 kg dây máu chó với giá 5.200.000đ của những người dân không quen biết mang đến nhà bán. Trưa ngày 20/5/2019 sau khi thuê người dân lao động bốc 3.000 kg dây máu chó lên xe ô tô BKS 27C – 023.87 bị cáo một mình điều khiển xe ô tô chở 3000 kg dây máu chó đi bán cho bà Hòe, đến 14 giờ 30 phút cùng ngày khi bị cáo điều khiển xe ô tô đi đến khu vực bản Nghịu, xã P K, huyện Đ B thì bị tổ công tác của Hạt kiểm lâm huyện Đ B kiểm tra phát hiện thu giữ. Ngày 22/5/2019 Hạt kiểm lâm huyện Đ B đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 000033/QĐ – XPVPHC xử phạt bị cáo 15.000.000đ.

Lần 3: Tối ngày 30/5/2019 sau khi thuê người dân lao động bốc 2.200kg dây máu chó còn lại lên xe ô tô BKS 27C – 023.87 bị cáo thuê Lò Văn Hoàn đi cùng xe để bốc hàng xuống, đến 01 giờ 10 phút ngày 31/5/2019 khi bị cáo điều khiển xe ô tô đi đến km 19 quốc lộ 279 hướng huyện Đ B – Tuần Giáo thuộc địa bàn xã Nà Nhạn, huyện Đ B, thì bị tổ công tác của Hạt kiểm lâm huyện Đ B kiểm tra phát hiện thu giữ. Ngày 03/6/2019 Hạt kiểm lâm huyện Đ B đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 000036/QĐ –XPVPHC xử phạt bị cáo 15.000.000đ.

Sau khi ban hành các Quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với bị cáo, Hạt kiểm lâm huyện Đ B, xét thấy hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, ngày 11/6/2019 Hạt kiểm lâm huyện Đ B đã ban hành các quyết định hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01 số 02 về việc hủy bỏ toàn bộ quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 000033/QĐ-XPVPHC ngày 22/5/2019 và quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 000036/QĐ-XPVPHC ngày 03/6/2019. Ngày 12/6/2019 của Hạt kiểm lâm huyện Đ B, ban hành Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 02. Về tội: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, quy định tại khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự, sau đó chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ B để điều tra theo thẩm quyền.

Tại bản kết luận giám định thực vật số 560/STTNSV ngày 28/6/2019 của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật kết luận: 03 (ba) mẫu thực vật Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ B đề nghị giám định là mẫu thân của loài Spatholobus suberectus Dunn (Huyết rồng lào, huyết rồng lớn, Kê huyết đằng…), thuộc họ đậu (Fabaceae); không thuộc danh mục loài nguy cấp quý hiếm quy định tại các Nghị định của Chính phủ.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 29 ngày 11/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ B kết luận 5.200kg dây máu chó (Kê huyết đằng) có giá 8.640.000đ.

Tại phiên tòa bị cáo Lường Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Tại bản Cáo trạng số: 175/CT-VKSĐB ngày 03/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B truy tố Lường Văn T về tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm m khoản 1 Điều 232; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS; Điều 36/ BLHS xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo ngoài xin giảm nhẹ hình phạt bị cáo không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi của bị cáo: Ngày 17/5/2019 bị cáo bị Hạt kiểm lâm huyện Đ B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Vận chuyển, mua bán trái phép lâm sản; trong các ngày 20/5/2019 và ngày 31/5/2019 tại địa bàn xã P K và địa bàn xã Nà Nhạn, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên bị cáo tiếp tục có hành vi Vận chuyển, mua bán trái phép 5.200 kg dây máu chó (Kê huyết đằng) có giá trị 8.640.000 đồng, mục đích đem đi bán kiếm lời.

Hành vi của bị cáo phù hợp với Biên bản khám phương tiện vận tải; Biên bản kiểm tra lâm sản; Kết luận giám định thực vật; Kết luận định giá cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Sau khi ban hành các Quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với bị cáo, Hạt kiểm lâm huyện Đ B, xét thấy hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, ngày 11/6/2019 Hạt kiểm lâm huyện Đ B đã ban hành các quyết định hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01 số 02 về việc hủy bỏ toàn bộ quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 000033/QĐ-XPVPHC ngày 22/5/2019 và quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 000036/QĐ-XPVPHC ngày 03/6/2019. Ngày 12/6/2019 của Hạt kiểm lâm huyện Đ B, ban hành Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 02. Về tội: "Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản" quy định tại khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự, sau đó chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ B để điều tra theo thẩm quyền.

Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.

. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội; đã xâm phạm đến chế độ quản lý về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là ít nghiêm trọng, nên cần phải xử lý theo quy định của pháp luật.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là dân tộc thiểu số sống vùng cao trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế, bị cáo là lao động chính và là lao động duy nhất trong gia đình(có xác nhận của chính quyền địa phương). Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

HĐXX thấy rằng bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51/BLHS; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Sau khi xem xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì HĐXX xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, bị cáo là lao duy nhất của gia đình vì vợ và con bị cáo đều bệnh tật. Xét thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát giáo dục cũng đủ để bị cáo trở thành người tốt.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện Đ B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 232/BLHS, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ. Xét thấy bị cáo là dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và theo khoản 3 Điều 36/BLHS thì trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Nhưng xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo đặc biệt khó khăn, nên không có khả năng thi hành. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

. Đối với những người dân đã bán dây máu chó cho bị cáo và những người lao động đã bốc vác thuê lâm sản cho bị cáo. Do bị cáo không biết tên và địa chỉ của họ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ.

Trong quá trình bị cáo thu mua dây máu chó mang đi bán Cà Thị Chung và Lường Thị Hồng là vợ và con của bị cáo không biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, do bị cáo nói với Chung và Hồng là đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép cho thu mua lâm sản ngoài gỗ, nên Cơ quan điều tra không đề cập vấn đề xử ký trong vụ án.

Ngày 31/5/2019 Lò Văn Hoàn được bị cáo thuê đi theo xe ô tô để bốc vác dây máu chó xuống xe, quá trình điều tra xác định Hoàn không biết việc vận chuyển dây máu cho của bị cáo là vi phạm pháp luật, nên không đề cập xử lý.

Đối với bà Bùi Thị Hòe đã được UBND huyện Đ B cấp giấy đăng ký hộ kinh doanh số 62G00036362 ngày 29/01/2018 ngành nghề kinh doanh: Chế biến và thu mua Nông sản phụ. Việc bà Hòe có thỏa thuận mua dây máu chó với bị cáo là không vi phạm pháp luật, nên không đặt vấn đề xử lý trong vụ án.

[ 7]. Chiếc xe ô tô biển kiểm soát 27C-023.87 thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là của vợ chồng Cà Thị Miên, sinh năm 1986 và Cà Văn Thanh, sinh năm 1985 cùng trú tại bản Bánh, xã Mường Phăng, huyện Đ B đã mua lại của ông Hà Hữu Bằng, sinh năm 1974, trú tại tổ 3, phường Thanh Bình, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên từ tháng 11/2016 quá trình mua bán hai bên có viết giấy chuyển nhượng nhưng chưa sang tên, đổi chủ. Vợ chồng chị Miên anh Thanh cho bị cáo mượn để làm ăn kinh doanh, anh Thanh và chị Miên không biết bị cáo sử dụng chiếc xe ô tô vào việc phạm tội; Ngày 31/7/2019 trên cơ sở công văn đề nghị của Cơ quan điều tra, Hạt kiểm lâm huyện Đ B ban hành quyết định số 03 về việc hủy bỏ một phần quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 000032/QĐ –XPVPHC, ngày 17/5/2019 đối với hành vi “chủ phương tiện vận chuyển lâm sản trái phép” số tiền phạt là 3.000.000 đồng; Ngày 02/8/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ B đã trả chiếc xe ô tô cùng 01 giấy chứng nhận kiểm định kỹ thuật phương tiện thiết bị giao thông cơ giới do Sở giao thông vận tải tỉnh Điện Biên cấp ngày 23/01/2019 cho chủ sở hữu hợp pháp theo quyết định xử lý vật chứng số 46 ngày 02/8/2019.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS, nhưng bị cáo là người dân tộc thiểu số hiện đang cư trú tại xã P K, huyện Đ B thuộc xã đặc biệt khó khăn theo Quyết định 900/QĐ-TTg ngày 20/6/2017 của chính phủ . Căn cứ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn án phí HSST và án phí DSST có giá ngạch.

. Vật chứng: Trong các ngày 20/5/2019 và ngày 31/5/2019 Hạt kiểm lâm huyện Đ B đã thu giữ của Lường Văn T tổng cộng là 5.200 kg dây máu chó (Kê huyết đằng), sau khi thu giữ Hạt kiểm lâm huyện Đ B đã bán thanh lý toàn bộ số dây máu chó nói trên thu được số tiền 8.640.000 đồng, hiện số tiền này đang được gửi trong tài khoản tiền gửi của Công an huyện Đ B mở tại Kho bạc Nhà nước huyện Đ B

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232/BLHS; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS; Điều 36/BLHS:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.

2. Hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Lường Văn T 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã P K, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

- Miễn việc khấu trừ thu nhập, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Giao bị cáo cho UBND xã P K, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã P K, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. <

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo được miễn án phí HSST và án phí DSST có giá ngạch.

4. Vật chứng: Căn cứ điểm b Điều 47/BLHS; điểm b khoản 2 Điều 106/BLTTHS tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 8.640.000đ do bị cáo phạm tội mà có. Hiện nay số tiền này đang được gửi trong tài khoản tiền gửi của Công an huyện Đ B mở tại Kho bạc Nhà nước huyện Đ B.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo về vấn đề trực tiếp có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được kháng cáo về vấn đề trực tiếp có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ