vanban.org

Bản án 198/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 28/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, th i hạn tù tính từ ngày 25/01/2019. Về vật chứng: Căn cứ Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 89, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Minh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự Xử phạt
T A N NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 198/2019/HS-ST
Ngày 28 - 6 – 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Minh Hiếu

2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 161/2019/HSST ngày 22 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2019/HSST-QĐ ngày 05/6/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2019/HSST ngày 19/6/2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh T, sinh năm 1990 tại tỉnh Bình Dương; thư ng trú: 111 đư ng số 5, khu phố Đ1, phư ng A, thị xã K, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Phụ xe (lơ xe); trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn L và con bà Nguyễn Thị N; có vợ tên Nguyễn Thị Hồng S, sinh năm 1992 và có 02 con sinh năm 2010 và sinh năm 2012; tiền sự, tiền án: Kh ng có; bị b t tạm giam ngày 25/01/2019, có m t.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trịnh Thị Tuyết T, sinh năm 1960; địa chỉ: 46/1A khu phố T, phư ng H, thị xã K, tỉnh Bình Dương, v ng m t.

-Người làm chứng:

1. Anh Đoàn Nhật L, v ng m t.

2. Anh Nguyễn Văn M, v ng m t.

NỘI DUNG VỤ N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Bị cáo Nguyễn Minh T làm chung c ng ty với Đoàn Nhật L, Nguyễn Văn M. Khoảng 20 gi ngày 24/01/2019, bị cáo T sử dụng điện thoại nhãn hiệu Oppo F3 sim số 0384.050.900 gọi cho Ni (kh ng rõ lai lịch) hỏi mua ma túy và hẹn g p tại cầu Hang địa chỉ xã Hóa An, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Khi đến, T g p ngư i đàn ng kh ng rõ lai lịch mua 500.000 đồng được 09 liều ma túy. T mang ma túy về phòng ở trọ của M địa chỉ số 46/1A khu phố Đ ng Tác, phư ng Tân Đ ng Hiệp, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhưng kh ng g p M, T giấu ma túy ở bên dưới tấm đan trước cửa phòng trọ M rồi về. Đến khoảng 15 gi ngày 25/01/2019, T đến phòng trọ của M g p M và L. T đi lấy gói ma túy đã cất giấu, lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy bỏ một liều ma túy đã mua để cả ba sử dụng thì bị Công an phư ng Tân Đ ng Hiệp kiểm tra hành chính, T ném gói nilon bên trong chứa 08 gói nilon hàn kín xuống phòng ở trọ thì bị lập biên bản b t ngư i có hành vi phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon bên trong chứa 08 gói nilon hàn kín chứa tinh thể màu tr ng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F3.

Căn cứ bản Kết luận giám định số 150/MT-PC09 ngày 29/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Bình Dương kết luận mẫu tinh thể màu tr ng trong tám gói nilon hàn kín gửi giám định thu giữ từ T là ma túy, có khối lượng 0,9840 gam loại Methamphetamine.

Đối với Nguyễn Văn M, Đoàn Nhật L sử dụng trái phép chất ma túy C ng an thị xã Dĩ An ra Quyết định xử phạt hành chính với số tiền 750.000 đồng.

Cáo trạng số 187/CT - VKS ngày 21/5/2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T từ 01 năm đến 01 năm 6 tháng tù.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy ma túy, bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước điện thoại di động nhãn hiệu oppo F3.

Bị cáo T kh ng tranh luận, kh ng bào chữa cho hành vi phạm tội. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói l i sau cùng: Trong th i gian bị tạm giam bị cáo rất hối hận việc mình đã làm, bị cáo xin được giảm nhẹ mức án thấp nhất để sớm về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA T A N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Chứng cứ xác định có tội của bị cáo: Biên bản b t ngư i phạm tội quả tang ngày 25/01/2019, l i khai ngư i làm chứng, biên bản lấy l i khai, quá trình tranh tụng tại phiên tòa thể hiện, bị cáo Nguyễn Minh T sử dụng ma túy, ngày 24/01/2019 T mua 09 liều ma túy để sử dụng, khoảng 15 gi ngày 25/01/2019, T bỏ 01 liều ma túy ra sử dụng cùng với Đoàn Nhật L và Nguyễn Văn M, 08 liều ma túy còn lại T cất giữ trong ngư i, khi C ng an phư ng Tân Đ ng Hiệp kiểm tra hành chính phòng ở trọ T vứt 08 liều ma túy xuống nền nhà bị lập biên bản b t giữ. Kết quả giám định ma túy thu giữ từ T có khối lượng 0,9840 gam loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT 323, Nghị định 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Như vậy, hành vi trên của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng số 187/CT-VKS ngày 21/5/2019 của Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo cũng như trình bày luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.

Về tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tình tiết trên được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân tốt thể hiện việc kh ng có tiền án, tiền sự

[2] Về tính chất mức độ tội phạm: Bị cáo T phạm tội thuộc trư ng hợp nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 05 năm tù, bị cáo là ngư i có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm một cách cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo T thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo T mức án tù có th i hạn, tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành ngư i c ng dân có ích cho gia đình, xã hội cũng như có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[3] Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy cần tịch thu tiêu hủy. Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F3 sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[4] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, việc xử lý vật chứng và mức hình phạt đối với bị cáo T. Xét quan điểm trên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận.

[5] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C ng an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[6] Án phí sơ thẩm: Bị cáo T phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, th i hạn tù tính từ ngày 25/01/2019.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 89, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư đã niêm phong bên trong có ma túy, trọng lượng sau giám định 0.8979 gam; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F3 màu vàng tr ng. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/5/2019.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thư ng vụ Quốc Hội khoá 14.

Bị cáo Nguyễn Minh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c bản án được niêm yết.

Cỡ chữ