- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 26 Luật thi hành án
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ TP. HÀ NỘI -------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:198/2018/HSST Ngày:29/11/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ
VỚI THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ GỒM CÓ:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Liên Hội thẩm nhân dân
: Ông Vũ Anh Đối
Ông Đinh Quang Huấn
Thư ký ghi biên bản phiên toà : Bà Đặng Thị Vân Kiều - Cán bộ Toà án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì:
Bà Nguyễn Thị Thanh Hƣơng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2018, Tại trụ Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 196/2018/HSST ngày 19/11/2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn B sinh năm: 1980
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh T. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn Hoá: 5/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn Giáo: không; Con ông: Lê Văn V, Con bà: Trần Thị L. Gia đình có 4 anh em, bị cáo là con thứ ba. Có vợ là Lê Thị H sinh năm 1984, có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm: 2008. Danh chỉ bản số 0375 ngày17/8/2018 Công an huyện T lập. Tiền án, không, tiền sự: không. Bị bắt quả tang và tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/08/2018 hiện đang bị tạm giam ở trại giam số 2 - Công an Thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau.
Buổi sáng ngày 15/8/2018 khi Lê Văn B đang ở khu vực T, huyện T, thành phố T, Bình gặp và mua của một người đàn ông không biết 01 gói ma tuý với giá 200.000đồng sau khi mua được ma tuý B cất giữ để sử dụng. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM BKS 36.4404 đến khu vực xã Đ, huyện T, thành phố Hà Nội để tìm nơi sử dụng ma tuý.
Hồi 15 giờ 00 phút cùng ngày đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý- Công an huyện T đang làm nhiệm vụ tại khu vực thôn 1, thôn Đ, huyện T, Hà Nội phát hiện Lê Văn B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM BKS 36F6.4404 có biểu hiện nghi vấn nên dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện bên trong lòng bàn tay phải của B có 01 túi nilong bên trong 01 túi ni long trên là ma tuý B mua để sử dụng nên tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ niêm phong vật chứng. Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ của B 01 mô tô nhãn hiệu SYM BKS 36F6.4404 và 01 điện thoại NOKIA 1280 bên trong lắp sim số thuê bao 0984033706.
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với 01 túi ni long bên trong chứa chất bột màu trắng thu giữ của Lê Văn B.
Tại bản kết luận giám định số: 6670/KLGĐ - PC54 ngày 21/08/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:
- Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma tuý loại ma tuý loại Heroin là ma tuý, khối lượng 0,492 gam. (Cơ quan giám định đã sử dụng để giám định đã sử dụng để giám định hết 0,025 gam trong tổng số 0,492gam còn lại 0,467 gam hoàn lại cho cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T).
Tại cơ quan điều tra, Lê Văn B khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên lời khai của Bình phù hợp với chứng cứ do cơ quan điều tra thu thập được.
Đối với nam thanh niên bán ma tuý cho B, B khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này và không nhớ rõ địa điểm mua ma tuý, nên cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T không có căn cứ để xử lý.
Đối với chiếc 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 trên trong có lắp sim số thuê bao 0984033709 thu giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 trên trong có lắp sim số thuê bao 0984033706 thu giữ của Lê Văn B , quá trình xác minh xác định đây là điện thoại của B sử dụng để liên lạc cá nhân nhưng cần tiếp tục giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng: số 185/ CT-VKS TT ngày 07/11/2018,Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố Lê Văn B về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà: Bị cáo khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra Lê Văn B thừa nhận nội dung Bản cáo trạng là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo thấy được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thành khẩn ăn năn hối cải, hứa sẽ sửa chữa và đề nghị Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Văn B về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 điều 249 - Bộ luật hình sự năm 2015, như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T.
Đề nghị Tòa xử phạt Lê Văn B từ 18 ( mười tám ) đến 24 ( hai mươi tư) tù giam.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị Tòa tịch thu tiêu hủy 01 gói Heroine có khối lượng 0,467gam, sau khi đã giám định. Trả lại cho bị cáo chiếc xe máy nhãn hiệu SYM màu đen số khung, số máy FT65984. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia của bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Căn cứ kết quả thẩm tra chứng cứ và xét hỏi tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Hồi 15 giờ 00 phút ngày 15/8/2018 tại khu vực thôn vực thôn 1, xã Đ, huyện T, thành phố Hà Nội Bình đang tàng trữ trái phép 01 túi nilong bên trong có chứa ma tuý loại Heroine, khối lượng 0,492 gam ở trong lòng bàn tay phải thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an huyện T bắt quả tang, thu giữ tang vật.
Đối chiếu pháp luật Lê Văn B đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có cơ sở pháp lý.
Như vậy hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Lê Văn B đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ pháp lý. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự
Về tình tiết tăng nặng: Trong vụ án này bị cáo không
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải đ-ược quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 - bộ luật hình sự năm 2015
Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhưng coi thường pháp luật, do đó cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, để cải tạo giáo dục đối với bị cáo, mới có tác dụng đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có việc làm thu nhập ổn định và áp dụng hình phạt tù, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 gói Heroine có khối lượng 0,467gam sau khi đã giám định. Chiếc xe máy nhãn hiệu SYM màu đen số khung, số máy FT65984 của bị cáo không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất am tuý nên trả lại cho bị cáo. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia của bị cáo.
Xét thấy số Heroine đã thu giữ là chất độc hại cấm lưu hành không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật hình sự năm 2015.
Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51, - Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Lê Văn B 16 (mƣời sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang và tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2018.
Về vật chứng: căn cứ điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo 01 chiếc xe mô tô BKS: 36F6 - 1280 đã qua sử dụng, số khung 615984, số máy FT61584 hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/12/2018).
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước chiếc điện thoại Nokia 1280 (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/12/2018).
Tịch thu tiêu huỷ 01gói Heroine có khối lượng 0,467 gam ( Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã thu giữ 0,492 gam Heroine. Sau khi giám định 0,025gam đã trả lại cho Công an huyện T 0,460 gam Heroine ). Hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thi hành án huyện T.
Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Điều 20, 22, 26 Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về quyền thi hành án: Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định của Toà án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán Chủ toạ phiên toà NGUYỄN THỊ KIM LIÊN |