- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn P - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 198/2018/HS-PT Ngày: 09/5/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với!thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!phúc!thẩm!gồm!có:!
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Trương Công Huấn.
Các"Thẩm"phán:""
1.Ông Vũ Văn Lệ
2.Bà Phạm Uyên Thy
Thư"ký"phiên"tòa:"Ông Lưu Quốc Khánh, thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"tham"gia"phiên"
tòa: Ông Trần Thanh Khánh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 09/5/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số số
15/2018/HSPT ngày 05/01/2018 đối với bị cáo Nguyễn Văn P theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 1834/2018/QĐXXPT-HS ngày 20/4/2018 do có kháng
cáo của bị cáo và đại diện người bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số
220/2017/HSST ngày 01/12/2017 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ
Chí Minh.
Bị!cáo!kháng!cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn P, giới tính nam, sinh năm 1990 tại tỉnh Quảng
Ngãi; nơi đăng ký thường trú: Xóm 5, thôn Duyên Trường, xã Phổ K, huyện
Đức H, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa: 9/12; con ông
Nguyễn Văn K và bà Đỗ Thị S; hoàn cảnh gia đình: vợ tên Võ Thị Thúy D, có 1
con sinh năm 2017;
Tiền án, tiền sự: (không có)
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Những!người!tham!gia!tố!tụng!khác!có!kháng!cáo!hoặc!có!liên!quan!
đến!kháng!cáo:!
Đại"diện"của"bị"hại-ông"Vũ"T(đã"chết):""
1.Bà Hoàng Thị Kim Đ; sinh năm 1947; nơi cư trú: Số 25, Tỉnh lộ V, Khu
phố 3A, phường T, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
2. Anh Vũ Hoàng S, sinh năm 1970; nơi cư trú: Quốc lộ 1A, phường An
Phú Đ, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
3. Anh Vũ Hoàng H, sinh năm 1972; nơi cư trú: đường Lê Văn T, Phường
XX, quận Gò V, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt."
4. Chị Vũ Thị Hoàng L, sinh năm: 1975; nơi cư trú: Số 25, Tỉnh lộ V,
Khu phố 3A, phường T, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng"mặt."
Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan: Công ty TNHH Vận tải Dịch vụ
Thương mại Đầu tư C; địa chỉ: đường Z, Phường 13, quận Bình T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người"đại"diện"hợp"pháp"của"Công"ty"TNHH"Vận"tải"Dịch"vụ"Thương"mại"
Đầu" tư" C: Ông Cao Hải P; sinh năm 1977; là đại diện theo pháp luật (Giám đốc); nơi đăng ký thường trú: đường Z, Phường 13, quận Bình T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.!
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 09/12/2016, Nguyễn Văn P điều khiển xe ô
tô biển số 51C-45108 lưu thông trên Quốc lộ 1 theo hướng từ cầu Bến Cát đến Ngã tư Ga. Chiếc xe này do bị cáo thuê của Công ty TNHH Vận tải Dịch vụ Thương mại Đầu tư C theo Hợp đồng thuê xe số 08/2016/HĐTC ngày 19/8/2016 (bl.127). Khi đến trước khu vực nhà 155 Quốc lộ 1, Khu phố G, phường Thạnh R, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo điều khiển vào làn xe dành cho xe 2 và 3 bánh, để khung bảo vệ hông phải của xe ô tô va chạm vào bên trái cần nâng sau yên xe mô tô mang biển số 51Y6-3002 do ông Vũ T điều khiển lưu thông cùng chiều. Va chạm xảy ra làm cho ông Vũ T bị thương nặng. Ông T được mọi người đưa đi cấp cứu nhưng đã tử vong ngay sau đó.
Theo kết luận giám định pháp y tử thi số 62-17/KLGĐ-PY ngày
06/02/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Ông Vũ T chết do đa chấn thương nặng, nồng độ cồn trong máu là 16/100ml).
Nguyên nhân dẫn đến vụ tại nạn giao thông là do Nguyễn Văn P điều
khiển xe ô tô lưu thông không đúng làn đường quy định, quan sát kém nên đã để khung bảo vệ hông phải của phương tiện va chạm vào bên trái cần nâng sau yên xe mô tô do ông Vũ T điều khiển, vi phạm Điều 8 và Điều 9 Luật Giao thông Đường bộ. Ông Vũ T điều khiển xe mô tô lưu thông đúng phần đường quy định, nồng độ cồn trong máu ở mức cho phép, ông Toán không có lỗi trong việc để xảy ra tai nạn.
Bản án số 220/2017/HSST ngày 01/12/2017 của Tòa án nhân dân Quận
X,Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố Nguyễn Văn P phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33,
Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Bộ luật
hình sự); Điều 591, Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015,
Xử phạt Nguyễn Văn P 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ
ngày bắt bị cáo chấp hành án;
Buộc bị cáo phải bồi thường cho đại diện bị hại là bà Hoàng Thị Kim Đ
191.000.000đ.
Ngoài ra, bản án còn tuyên quyền kháng cáo của bị cáo và các đương sự.
Ngày 07/12/2017 bị cáo Nguyễn Văn P làm đơn kháng cáo với nội dung:
Hình phạt 2 năm 6 tháng tù và buộc bồi thường 191.000.000đ đối với bị cáo là
quá nặng. Bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; bị cáo chưa từng vi phạm luật
giao thông đường bộ; sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo đã tích cực giải quyết vụ
việc, thể hiện thái độ hợp tác, thành khẩn khai báo; bị cáo đang nuôi con nhỏ
sinh năm 2017; thời điểm xảy ra tai nạn là chiều tối, trời mưa nên phần nào hạn
chế tầm nhìn. Do vậy, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và giảm mức bồi thường.
Ngày 11/12/2017 bà Hoàng Thị Kim Đ làm đơn kháng cáo với nội dung:
Yêu cầu ông Cao Hải P phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho gia
đình nạn nhân.
Tại"phiên"tòa"phúc"thẩm,"
Bị cáo cho biết đã thực hiện xong việc bồi thường cho đại diện người bị
hại, đồng thời xin rút lại yêu cầu kháng cáo về mặt dân sự. Bị cáo bổ sung nội
dung kháng cáo như sau: Bị cáo đã thực hiện xong việc bồi thường, bị cáo xin
giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Bà Hoàng Thị Kim Đ cho biết bị cáo đã thực hiện xong việc bồi thường,
bà xin rút lại kháng cáo.
Bà Hoàng Thị Kim Đ và anh Vũ Hoàng S trình bày ý kiến như sau: Ông
Vũ Tđã mất là thiệt hại không thể bù đắp. Tuy nhiên, xét thấy việc xảy ra tai
nạn giao thông là không ai muốn, bị cáo phạm tội do lỗi vô ý; mặc dù gia đình bị
cáo nghèo nhưng sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo đã tích cực khắc phục hậu quả.
Do vậy, đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng
án treo, tạo cơ hội cho bị cáo tự cải tạo, ổn định cuộc sống.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân nhân Thành phố Hồ Chí
Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Việc Tòa án nhân
dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo về tội “Vi phạm quy định
về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật
hình sự là có căn cứ. Việc bị cáo tự nguyện thực hiện bồi thường hại và được
đại diện bị hại xin giảm nhẹ, đề nghị cho hưởng án treo là những tình tiết giảm
nhẹ mới phát sinh. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, xử phạt bị cáo với mức án từ 9 tháng đến 1 năm tù
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và đại diện của người bị hại, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Cơ quan Cảnh sát điều tra
Công an Quận X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận X, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân Quận X đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo, đại diện bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2]. Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 09/12/2016, trên Quốc lộ 1, ở khu
vực trước nhà Quốc lộ 1, Khu phố G, phường Thạnh R, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo đã điều khiển xe ô tô gây tai nạn làm chết ông Vũ T và làm hư hại 1 xe máy. Nguyên nhân dẫn đến tai nạn là do bị cáo điều khiển xe ô tô lưu thông lấn sang làn đường dành cho xe mô tô, xe thô sơ, thiếu chú ý quan sát, để xe ô tô va đụng với xe mô tô do ông Vũ T điều khiển, vi phạm Điều 8 và Điều 9 Luật Giao thông Đường bộ năm 2008. Người bị hại lưu thông đúng làn đường quy định nên không có lỗi. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật giao thông nhưng do chủ quan nên vẫn vi phạm, dẫn đến việc gây ra tai nạn làm 1 người chết và hư hại 1 xe máy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, tính mạng của người khác. Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh kết tội bị cáo theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự là có cơ sở.
[3]. Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự, thuộc thành phần lao động,
có 1 con nhỏ sinh năm 2017, phạm tội lần đầu, bản thân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là đúng pháp luật.
[4]. Sau phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả đã gây
ra, bồi thường thiệt hại cho phía người bị hại theo như án sơ thẩm đã tuyên; được đại diện người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt và đề nghị cho hưởng án treo. Đây là các tình tiết mới phát sinh. Mặt khác, bị cáo có việc làm và nơi cư trú ổn định. Do vậy, cần áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 và 2 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 để xử lý; chấp nhận kháng của bị cáo; giảm hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
[5]. Tại phiên tòa, phúc thẩm, bị cáo và bà Hoàng Thị Kim Đ rút lại kháng
cáo về mặt dân sự. Do vậy, căn cứ khoản 3 Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2015, cần đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo và bà
Điu về mặt dân sự.
[6]. Về án phí:
Kháng cáo của bị cáo về mặt hình sự được chấp nhận. Do vậy, theo quy
đinh tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội (Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14), bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo rút kháng cáo về mặt dân sự nên theo quy định tại
khoản 4 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, bị cáo phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm là 300.000đ.
Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, bà Hoàng Thị Kim Đ được miễn án phí dân sự phúc
thẩm; bà Điu không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì"các"lẽ"trên,"
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 342, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2015,
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn P về mặt hình sự, sửa bản
án sơ thẩm số 220/2017/HSST ngày 01/12/2017 của Tòa án nhân dân Quận X,
Thành phố Hồ Chí Minh;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Vi phạm quy định về điều
khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b và p khoản 1, khoản 2 Điều 46, khoản
1 và 2 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 1 (một) năm 3 (ba) tháng tù nhưng cho bị
cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tính từ
ngày tuyên án phúc thẩm; giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Phổ K, huyện
Đức H, tỉnh Quảng Ngãi để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong
thời gian thử thách, nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy
định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
2. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn P
và bà Hoàng Thị Kim Đ về phần dân sự.
3. Bị cáo phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, không phải chịu án
phí hình sự phúc thẩm; bà Hoàng Thị Kim Đ được miễn án phí dân sự phúc
thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
(Đã"giải"thích"chế"định"án"treo"cho"bị"cáo)./. !!Nơi!nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND TC;
(1)
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- TAND cấp cao tại TP.HCM
(1)
- VKSND TP. HCM;
(3)
- VKSND Quận X;
(1)
- PC53 - CATP;
(1)
- Bị cáo;
(1)
- Đương sự:
(6)
- Chi Cục THA Quận X;
(1)
- TAND Quận X;
(2)
- Công Quận X;
(1)
- Sở Tư pháp TP.HCM;
(1)
- UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú;
(1)
Trương Công Huấn
- Lưu: THS, hồ sơ, VT (25).
(4)