- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng N - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Nguy n Trọng N. Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NH N N CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH Đ NG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 198/2017/HSPT Ngày: 18-7-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH N N TỈNH Đ NG THÁP
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguy n Th Mai
Các thẩm phán:
Ông Tô Phú Đông
Ông Huỳnh Thanh Mỹ
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguy n Tấn Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Bích Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 172/2017/HSPT ngày 15 tháng 6 năm 2017 đối với b cáo Nguy n Trọng N.
Do có kháng cáo của b cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2017/HSST ngày 04 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện T.
Bị cáo có kháng cáo:
NGUYỄN TRỌNG N
- Sinh năm: 1987;
- ĐKHKTT: Ấp T1, xã T2, huyện M, tỉnh B;
- Chỗ ở: Ấp 6B, xã T3, huyện T, tỉnh Đồng Tháp;
- Nghề nghiệp: Làm thuê;
- Trình độ học vấn: 05/12;
- Con ông Nguy n Văn N1, sinh năm 1954 (Còn sống) và bà Nguy n Th Đ, sinh năm: 1953 (Còn sống);
- Có 05 anh ch em. B cáo là con thứ 03 trong gia đình;
- Có vợ tên: Nguy n Th T4, sinh năm 1994;
- Có 03 người con: Lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2016;
- Tiền sự: Không;
- Có 01 tiền án: Ngày 21/5/2009, b Tòa án huyện T xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/5/2010, chưa chấp hành xong phần án phí và bồi thường thiệt hại;
- B t ngày 20/12/2016;
- Tạm giữ: Ngày 21/12/2016;
- Tạm giam: Ngày 23/12/2016;
- Hiện b cáo đang b tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp (Có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có người bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI UNG VỤ ÁN:
Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T và b n án hình s sơ th m của Tòa án nhân dân huyện T thì n i dung vụ án được tóm t t như sau:
Vào ngày 17/4/2015, ch Nguy n Th Thúy N2 tổ chức đám thôi nôi cho con của ch tại nhà (đ a chỉ ấp 6B, xã T3, huyện T) và có mời nhiều người đến dự, trong đó có Nguy n Trọng N và ch Nguy n Th Ánh N3 là em ruột của ch N2. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, N kêu ch N3 dọn cơm ăn nhưng ch N3 không ch u, nên giữa N và ch N3 xảy ra cự cãi dẫn đến đánh nhau, nhưng được mọi người can ngăn, không ai b thương tích gì. N bỏ ra ngoài thì nghe tiếng ch N3 ở trong nhà ch N2 tiếp tục chửi N. N đi đến bên hông nhà của ch N2 nhặt một khúc gỗ tràm r n ch c, dài khoảng 20cm cầm trên tay phải rồi đi lại đứng ngay cửa ra vào nhà của ch N2. Lúc này, ch N3 đang đứng trên giường bên trong nhà của ch N2 cùng với cháu Nguy n Th Tường V (sinh ngày 07/7/2008) là con của ch , cách nơi N đứng 3,5m và không b che khuất tầm nhìn. N ném mạnh khúc gỗ tràm về hướng ch N3 và Tường V đang đứng, trúng vào vùng đầu của Tường V gây thương tích. Tường V được đưa đi cấp cứu và điều tr tại Bệnh viện Chợ Rẫy đến ngày 23/04/2015 thì xuất viện.
Tại Bản Kết luận giám đ nh pháp y về thương tích số 154/TgT-TTPY, ngày 12/5/2016 của Trung tâm Pháp Y tỉnh Đồng Tháp kết luận thương tật của Nguy n Th Tường V: Sẹo vết thương phần mềm vùng trán phải lành tốt. Vỡ lún sọ trán phải gây khuyết sọ đường kính trên 06cm đáy phập phòng, tỷ lệ thương tật là 33 % tại thời điểm giám đ nh.
* Về trách nhiệm dân sự:
Người đại diện theo pháp luật cho người b hại (ch Nguy n Th Ánh N3 và anh Nguy n Thanh Đ1) đã nhận của b cáo N số tiền 2.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
* Về vật chứng:
Đối với khúc gỗ tràm là hung khí của vụ án, gia đình ch N1 khi dọn dẹp nhà đã bỏ mất, Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không tìm được.
Tại b n án hình s sơ th m số: 15/2017/HSST ngày 04/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện T đã quyết định:
Tuyên bố: B cáo Nguy n Trọng N đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; điểm g, h khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: B cáo Nguy n Trọng N 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 21/12/2016.
Ngoài ra, án sơ th m còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 12/5/2017, b cáo Nguy n Trọng N có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát đề ngh , căn điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của b cáo Nguy n Trọng N và giữ nguyên quyết đ nh bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của b cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI Đ NG XÉT XỬ:
B cáo Nguy n Trọng N vào ngày 21/5/2009, b Tòa án huyện T xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Nhưng sau khi ra trại cải tạo b cáo không từ bỏ bản chất côn đồ để trở thành công dân tốt. Ngoài ra b cáo còn phải là tấm giương tốt cho 3 người con của b cáo noi theo. Ch Nguy n Th Thúy N2 (là ch ruột) tổ chức đám thôi nôi cho con có mời nhiều người đến dự, trong đó có vợ chồng b cáo và ch Nguy n Th Ánh N3 (là em b cáo). Bản thân b cáo đi dự tiệc cùng với vợ của mình, nhưng chiều b cáo lại kêu ch N3 dọn cơm ăn. Ch N3 nói với b cáo sao không kêu vợ dọn cơm mà b cáo lại kêu ch và ch N3 cũng đang soạn đồ để đi về, không có gì là sai. Nhưng b cáo lại cự cãi nơi đông người, đánh nhau với ch N3, là một việc làm không đúng.
B cáo thấy vậy bỏ ra ngoài, nhưng là anh em với nhau b cáo quyết không nhường nh n. B cáo đi đến bên hông nhà nhặt một khúc gỗ tràm r n ch c, dài khoảng 20cm cầm trên tay. B cáo đứng ngay cửa ra vào cách khoảng 3,5m, còn ch N3 đang cùng với cháu Nguy n Th Tường V (sinh ngày 07/7/2008) đang lấy đồ đi về. B cáo lại ném mạnh khúc gỗ tràm về hướng ch N3 và trúng vào vùng đầu của cháu Tường V. B cáo gây ra thương tích cho cháu V b sẹo vết thương phần mềm vùng trán phải. Vỡ lún sọ trán phải gây khuyết sọ đường kính trên 06cm đáy phập phòng, tỷ lệ thương tật là 33%. Trong khi b cáo cũng nhận biết được tính mạng, sức khỏe con người được pháp luật bảo vệ. Nếu b cáo có hành vi xâm phạm đến sức khỏe người khác thì b pháp luật xử lý nghiêm minh. Tuy b cáo cố ý gây thương tích cho ch N3, nhưng hậu quả xảy ra cho cháu V, thì b cáo cũng phải ch u trách nhiệm về hậu quả mà do b cáo gây ra. Thương tích của cháu V hiện nay cũng chưa lành và cũng không có tiền ráp sọ. Sau này cháu lớn lên sẽ suy nghĩ như thế nào về việc b cáo là cậu ruột mà gây thương tích cho cháu. Do đó, xét thấy hành vi phạm tội của b cáo cần có thời gian cải tạo nghiêm kh c để b cáo trở thành công dân tốt, giúp ích cho bản thân và xã hội.
Hành vi phạm tội của b cáo án sơ thẩm xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và mức hình phạt 5 năm tù là không nặng. Vì b cáo đã sử dụng hung khí gây thương tích, phạm tội đối với trẻ em, phạm tội thuộc trượng hợp tái phạm. Trong khi b cáo là anh không bảo vệ cho em, cháu, mà gây ra cho cháu ruột của mình ảnh hưởng sức khỏe và tinh thần rất lớn. Hành vi phạm tội của b cáo là cố ý thực hiện việc phạm tội, chứ không phải là vô ý như b cáo trình bày. B cáo chưa thấy lỗi của bản thân, chứng tỏ b cáo là người xem thường pháp luật của Nhà nước. Sau khi án sơ thẩm xử b cáo kháng cáo xin giảm hình phạt, nhưng không xuất trình được tình tiết mới ngoài các tình tiết mà án sơ thẩm đã xem xét, nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên quyết đ nh bản án sơ thẩm là phù hợp với đề ngh của đại diện Viện kiểm sát.
Các phần khác của quyết đ nh bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Do kháng cáo của b cáo không được chấp nhận nên b cáo phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Nguy n Trọng N. Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
Tuyên bố: B cáo Nguy n Trọng N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g, h khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: B cáo Nguy n Trọng N 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2016.
Các phần khác của quyết đ nh bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Về án phí: B cáo Nguy n Trọng N phải ch u 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TTM HỘI Đ NG XÉT XỬ PH C THẨM N i nh n:
t
| - VKSND Tỉnh; - Ban Nội chính Tỉnh ủy; - Sở Tư pháp Tỉnh; - TAND huyện T; - Chi cục TH DS huyện T; - Trại Tạm giam Công an Tỉnh; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh; - Phòng KTNV - THAT Tỉnh; - B cáo; - Lưu HS (Nghĩa). | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Mai |