vanban.org

Bản án 197/2026/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng Tuyên án 09/09/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Hữu Q phạm tội " Sử dụng trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Trần Hữu Q 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/6/2026. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hữu Q - Sử dụng trái phép chất ma tuý - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Hữu Q phạm tội " Sử dụng trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 256a Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 197/2026/HSST
Ngày 09/9/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Thế Tài

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Nguyễn Dũng

+ Ông Huỳnh Bá Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Ny - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng mở phiên tòa trực tuyến được kết nối giữa điểm cầu Trung tâm đặt tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng với điểm cầu thành phần đặt tại Phân trại tạm giam Ngũ Hành Sơn, trại tạm giam số 01 - Công an TP. Đà Nẵng để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 200/2026/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 200/2026/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: TRẦN HỮU Q, sinh ngày: 20/4/1996 tại TP. Đà Nẵng; CCCD số: 048096006539 cấp ngày 21/5/2019; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ B, phường N, TP. Đà Nẵng.; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Cao Đài; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Trần Thanh T (SN: 1956, còn sống), con bà: Nguyễn Thị B (SN: 1958, còn sống); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 13/6/2024 bị Toà án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn (cũ) ra Quyết định số 15/2024/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Bị cáo bị bắt ngày 04/6/2026, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Ngũ Hành S - Trại tạm giam số 1, công an TP. Đà Nẵng. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- 1 -

Khoảng 18 giờ ngày 02/5/2026, Trần Hữu Q uống cà phê tại đường T (không nhớ địa chỉ cụ thể) thì gặp một thanh niên tên B1 (không rõ nhân thân, lai lịch, là bạn ngoài xã hội của Q). Béo đưa cho Q một gói ni lông bên trong có ma túy đá để Q sử dụng. Sau đó, Q đi về nhà tại tổ B phường N, thành phố Đà Nẵng, lấy nhiệt kế thuỷ ngân rồi một mình đến bãi đất trống gần nhà, Q bẻ gãy nhiệt kế sau đó sử dụng phần ống thuỷ tinh để đổ ma túy đá vào ống, dùng lửa làm nóng ống nhiệt kế rồi sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng xong, Q đập vỡ ống nhiệt kế vứt vào thùng rác gần đó rồi trở về nhà ngủ. Đến ngày 08/05/2026, Công an phường N, thành phố Đà Nẵng tiến hành thử test ma túy đối với Q cho kết quả dương tính.

Tang vật tạm giữ:

- Mẫu nước tiểu thu giữ của Q để trong 01 chai nhựa được đậy kín nắp và niêm phong ký hiệu THQ.

Tại kết luận giám định số 836 ngày 14/5/2026 của Phòng KHHS Công an TP.Đà Nẵng xác định: Mẫu nước tiểu thu giữ của Q niêm phong ký hiệu THQ gửi giám định có chất ma tuý, loại Methamphetamine.

Trần Hữu Q đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số: 2077/QĐ-UBND ngày 19/12/2025 của Chủ tịch UBND phường N, thành phố Đà Nẵng (thay quyết định số: 122/QĐ-UBND ngày 09/6/2025 của UBND phường H (cũ), thời hạn từ ngày 20/5/2025 đến ngày 20/5/2027).

Quá trình điều tra, Trần Hữu Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố theo Bản cáo trạng số 148/CT-VKS-KV2 ngày 18/8/2026 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Trần Hữu Q phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” đồng thời đề nghị:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Hữu Q từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

* Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) mẫu vật niêm phong là toàn bộ vỏ bao gói mẫu ký hiệu: Vỏ chai nhựa đựng mẫu nước tiểu ký hiệu THQ được niêm phong dán kín và dán băng keo trắng, đóng dấu đỏ của phòng K - Công an TP. Đà Nẵng, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và cán bộ trưng cầu giám định đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

* Lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

- 2 -

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Trần Hữu Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Vào ngày 02/5/2026, tại bãi đất trống, tổ B phường N, thành phố Đà Nẵng, Trần Hữu Q đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số: 2077/QĐ-UBND ngày 19/12/2025 của Chủ tịch UBND phường N, TP. Đà Nẵng (thời hạn từ ngày 20/5/2025 đến ngày 20/5/2027), đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine. Hành vi trên đây của bị cáo đã phạm vào tội "Sử dụng trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự. Do đó cáo trạng số 148/CT-VKS-KV2 ngày 18/8/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2

- Đà Nẵng đã truy tố là có cơ sở, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thì thấy: Ma túy tổng hợp Methamphetamine là loại độc chất, có khả năng gây nghiện mạnh, có hại cho sức khoẻ và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội do đó bị Nhà nước cấm tự do tàng trữ, mua bán, sử dụng, vận chuyển hoặc chiếm đoạt. Bị cáo Trần Hữu Q nhận thức được điều đó, song để phục vụ cho nhu cầu của bản thân đã bất chấp sự trừng trị của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện nhưng lại không tu dưỡng, rèn luyện để từ bỏ ma túy mà chỉ trong thời gian ngắn lại tiếp tục sử dụng. Việc này thể hiện sự coi thường pháp luật, bất chấp các biện pháp giáo dục, quản lý hành chính đã được áp dụng.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 13/6/2024 bị Toà án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn (cũ) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 15 tháng. Ngày 26/02/2025, UBND phường H (cũ) ra quyết định Quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú trong thời hạn từ ngày 09/6/2025 đến 09/6/2027. Do đó cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo.

Song xét thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có ông ngoại Nguyễn Quang H là liệt sĩ hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước nên cần áp

- 3 - dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo khi lượng hình.

Về biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) mẫu vật niêm phong là toàn bộ vỏ bao gói mẫu ký hiệu: Vỏ chai nhựa đựng mẫu nước tiểu ký hiệu THQ được niêm phong dán kín và dán băng keo trắng, đóng dấu đỏ của phòng K - Công an TP. Đà Nẵng, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và cán bộ trưng cầu giám định cần tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng tên “Béo” có hành vi cho ma túy Trần Hữu Q sử dụng, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tiếp tục xác minh, xử lý sau là phù hợp.

Xét các nội dung đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đà Nẵng về tội danh, điều khoản luật và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp các nhận định của Hội đồng xét xử.

Án phí HSST: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Hữu Q phạm tội " Sử dụng trái phép chất ma túy".

1. Căn cứ: Điểm b Khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Trần Hữu Q 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/6/2026.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS tuyên:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mẫu vật niêm phong là toàn bộ vỏ bao gói mẫu ký hiệu: Vỏ chai nhựa đựng mẫu nước tiểu ký hiệu THQ được niêm phong dán kín và dán băng keo trắng, đóng dấu đỏ của phòng K - Công an TP. Đà Nẵng, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và cán bộ trưng cầu giám định.

(Vật chứng, tài sản trên hiện Kho vật chứng thuộc Phân trại tạm giam Ngũ Hành S đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/8/2026).

3. Án phí HSST: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- 4 -

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ