vanban.org

Bản án 197/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 27/07/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05-11-2025. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày (bốn mươi lăm ngày) kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYEN CHI H - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 - TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 197/2026/HS-ST
Ngày: 27-7-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tạ Kỳ Trung;

2. Ông Nguyễn Văn Trung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Huỳnh Như Nguyện - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2026, tại Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 177/2026/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2026 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 07/TB-TA ngày 03-6-2026, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Chí H, sinh năm 1993, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: quản lý nhà nghỉ; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Ngọc N và bà Đặng Thị C; vợ: Phan Thu T và có 01 người con; tiền sự, tiền án: không có; bị tạm giữ ngày 05-11-2025, đến ngày 13-11-2025 bị tạm giam đến nay tại Phân trại tạm giam G thuộc Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh T “có mặt”.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Chí T1, sinh năm 2000; địa chỉ: ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh, xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 05-11-2025, Công an xã B phối hợp Đồn Công an khu kinh tế C1 kiểm tra nhà nghỉ N2 tại ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh do bà Đặng Thị C làm chủ. Khi lực lượng Công an kiểm tra phòng ngủ của Nguyễn Chí H (là con ruột của bà C), phát hiện H lấy đoạn ống thủy tinh trong suốt là dụng cụ sử dụng chất ma túy, cầm trên tay chạy đến cổng rào ném đoạn ống thủy tinh ra ngoài thì bị lực lượng Công truy bắt, thu giữ 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt, có một đầu là ụ tròn, bên trong có bám chất màu nâu (nghi là chất ma túy, ký hiệu M1); 01 vỏ chai có gắn nắp, trên nắp gắn ống hút màu vàng, 01 túi xách màu vàng, bên trong có 01 bịch nylon trong suốt đựng chất rắn màu trắng (nghi là chất ma túy, ký hiệu M) trong sọt đựng rác cạnh nhà vệ sinh và 02 bật lửa trong phòng của H nên lực lượng làm nhiệm vụ tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng có liên quan. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T làm rõ, xử lý.

Quá trình điều tra xác định: Do có nhu cầu sử dụng chất ma túy, khỏng 08 giờ ngày 05-11-2025, Nguyễn Chí H đi bộ đến khu vực cầu G thuộc ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh gặp người đàn ông tên Đ (không xác định được nhân thân, lai lịch) mua 500.000 đồng chất ma túy và 01 cây nỏ bằng thủy tinh để sử dụng. Sau đó, H đem bịch chất ma túy, 01 cây nỏ bằng thủy tinh về phòng của H tại nhà nghỉ N2, H lấy vỏ chai nước xả vải đổ nước vào bên trong, khoét nắp chai thành 02 lỗ, gắn cây nỏ bằng thủy tinh và đổ một phần chất ma túy vừa mua, dùng bật lửa đun nóng để sử dụng. Đến khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày, H lấy chất ma túy còn lại, 02 bật lửa cất giấu trong túi xách màu vàng để trong sọt đựng rác cạnh nhà vệ sinh trong phòng ngủ của H. Sau đó, H nhờ Nguyễn Chí T1 (là em ruột của H) trông coi nhà nghỉ để H đi cắt tóc và nói cho T1 biết trong phòng ngủ của H có chất ma túy trong cây nỏ nhưng T1 không sử dụng. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Công an xã B kiểm tra nhà nghỉ N2 thì phát hiện như nêu trên.

Tại kết luận giám định số 2572/KL-KTHS ngày 09-11-2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

- Mẫu chất rắn màu trắng (ký hiệu M) bên trong 01 bịch nylon hàn kín ba đầu gửi đến giám định là thấy chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,9870 gram.

- Mẫu chất rắn màu nâu (ký hiệu M1) bên trong 01 đoạn thủy tinh trong suốt có một đầu là ụ tròn gửi đến giám định là thấy chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,1480 gram.

- Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 05-11-2025 của Công an xã B, tỉnh Tây Ninh thể hiện: Nguyễn Chí Hải dương tính với chất ma túy trong cơ thể (loại Methamphetamine).

Vật chứng thu giữ:

- 01 bì thư được niêm phong ghi số 2572/M1, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý giám định Lê Văn T2 và dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh T. Bên trong có 01 bịch nylon chứa chất rắn màu nâu (ký hiệu M1) là Methamphetamine, có khối lượng là 0,1284 gram và 01 đoạn thủy tinh trong suốt có một đầu là ụ tròn.

- 01 bì thư được niêm phong ghi số 2572/M, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý giám định Lê Văn T2 và dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh T. Bên trong có 01 bịch nylon chứa chất rắn màu trắng (ký hiệu M) là Methamphetamine, có khối lượng 0,9104 gram.

- 01 túi xách màu vàng có chữ “Enchanteur” đã qua sử dụng.

- 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Samsung, số I: 355870663999032, bên trong không có sim điện thoại đã qua sử dụng.

- 01 chai nhựa có chữ “XẢ VẢI hương nàng xuân”, trên chai gắn nắp màu trắng, trên nắp gắn ông hút màu vàng đã qua sử dụng.

- 01 quẹt ga màu xanh đã qua sử dụng.

Đối với Nguyễn Chí T1 không sử dụng chất ma túy và không có chứng cứ xác định Thông sử dụng chất ma túy do H cung cấp, nên không đề nghị xử lý H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Đối với người thanh niên tên Đ không xác định được nhân thân, lai lịch, không làm việc được nên không có căn cứ xử lý.

Đối với ông Nguyễn Ngọc N và bà Đặng Thị C không biết việc H sử dụng ma túy tại nhà nghỉ N2, nên không xem xét xử lý.

Tại Bản cáo trạng số 36/CT-VKSKV12 ngày 23-4-2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Chí H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Chí H, do bị cáo không có tài sản.

Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 05-11-2025, tại nhà nghỉ N2 thuộc ấp T, xã B, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Chí H đang tàng trữ trái phép 1,135 gam chất ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang.

Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và đúng như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Do đó có đủ cơ sở xác định: Hành vi của bị cáo Nguyễn Chí H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Mặt dù bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng xem thường pháp luật nên bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm đối với bị cáo nhẳm mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra, xác minh bị cáo Nguyễn Chí H không có tài sản, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với Nguyễn Chí T1 không sử dụng chất ma túy và không có chứng cứ xác định Thông sử dụng chất ma túy do H cung cấp, nên không đề nghị xử lý H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Đối với người thanh niên tên Đ không xác định được nhân thân, lai lịch, không làm việc được nên không có căn cứ xử lý.

Đối với ông Nguyễn Ngọc N và bà Đặng Thị C không biết việc H sử dụng ma túy tại nhà nghỉ N2, nên không xem xét xử lý.

Biện pháp tư pháp:

Xử lý vật chứng:

- Đối với 01 bì thư được niêm phong ghi số 2572/M1, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý giám định Lê Văn T2 và dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh T. Bên trong có 01 bịch nylon chứa chất rắn màu nâu (ký hiệu M1) là Methamphetamine, có khối lượng là 0,1284 gram và 01 đoạn thủy tinh trong suốt có một đầu là ụ tròn; 01 bì thư được niêm phong ghi số 2572/M, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý giám định Lê Văn T2 và dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh T. Bên trong có 01 bịch nylon chứa chất rắn màu trắng (ký hiệu M) là Methamphetamine, có khối lượng 0,9104 gram là vật chứng Nhà nước cấm sử dụng; 01 túi xách màu vàng có chữ “Enchanteur” đã qua sử dụng; 01 chai nhựa có chữ “XẢ VẢI hương nàng xuân”, trên chai gắn nắp màu trắng, trên nắp gắn ông hút màu vàng đã qua sử dụng; 01 quẹt ga màu xanh đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Samsung, số I: 355870663999032, bên trong không có sim điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo không liên quan đến việc phạm tôi nên trả lại cho bị cáo.

- Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20-5-2026, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 - Tây Ninh.

Xét đề nghị của Đại viện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh tại phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05-11-2025.

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày (bốn mươi lăm ngày) kể từ ngày tuyên án.

3. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư được niêm phong ghi số 2572/M1, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý giám định Lê Văn T2 và dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh T. Bên trong có 01 bịch nylon chứa chất rắn màu nâu (ký hiệu M1) là Methamphetamine, có khối lượng là 0,1284 gram và 01 đoạn thủy tinh trong suốt có một đầu là ụ tròn; 01 bì thư được niêm phong ghi số 2572/M, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý giám định Lê Văn T2 và dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh T. Bên trong có 01 bịch nylon chứa chất rắn màu trắng (ký hiệu M) là Methamphetamine, có khối lượng 0,9104 gram là vật chứng Nhà nước cấm sử dụng; 01 túi xách màu vàng có chữ “Enchanteur” đã qua sử dụng; 01 chai nhựa có chữ “XẢ VẢI hương nàng xuân”, trên chai gắn nắp màu trắng, trên nắp gắn ông hút màu vàng đã qua sử dụng; 01 quẹt ga màu xanh đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Samsung, số I: 355870663999032, bên trong không có sim điện thoại đã qua sử dụng;

- Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20- 5-2026, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 - Tây Ninh.

4. Án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Chí H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 36 Luật Thi hành án dân sự năm 2025; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ