vanban.org

Bản án 197/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Lê Thị Lan O1.

Về con chung: Chị Lê Thị Lan O1 được trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Hoàng Â, sinh ngày 05/12/2023. Do chị O1 không yêu cầu anh K2 phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét, giải quyết. Anh Nguyễn Văn K2 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lê Thị Lan H ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Lê Thị Lan O1.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9-VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 197/2026/HNGĐ-ST
Ngày 24/7/2026
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - VĨNH LONG

- Thành phần Hội Khánh xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Hoàng Hiếu.

2. Ông Nguyễn Văn Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Nguyễn Nhứt- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9-Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Quí – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9-Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 294/2026/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2026 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 148/2026/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thúy O, sinh năm 1991; Địa chỉ: ấp A, xã A, Thành phố Cần Thơ. Chị O có yêu cầu xét xử vắng mặt

- Bị đơn: Anh Lê Du K, sinh năm 1987; Địa chỉ: 8 ấp Q, xã Q, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Trần Thị Thúy O trình bày:

Năm 2013 chị và anh K kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng nay là xã A, Thành phố Cần Thơ nên được cấp giấy chứng nhận vào ngày 09/5/2013. Chị và anh K có 02 con chung Lê Thị Khánh V, sinh ngày 22/9/2019 và Lê Khánh P, sinh ngày 02/5/2016. Hiện con chung Lê Thị Khánh V sống chung với chị, con chung Lê Khánh P sống chung với anh K.

Nguyên nhân chị yêu cầu ly hôn với anh K là do chị và anh K bất K quan điểm, vợ chồng không còn tin tưởng nhau, không còn tình cảm với nhau, hôn nhân không hạnh phúc, chị nhiều lần cho anh K cơ hội để thay đổi nhưng không có kết quả nên chị và anh K không còn sống chung khoảng hơn 01 năm nay. Gia đình hai bên có nhiều lần động viên và hàn gắn cho chị và anh K nhưng không thành.

Nhận thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị với anh K không thể hàn gắn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Chị O yêu cầu được ly hôn với anh K.

- Về con chung: Chị đủ điều kiện để nuôi con chung Lê Thị Khánh V, sinh ngày 22/9/2019. Chị yêu cầu được trực tiếp Lê Thị Khánh V, sinh ngày 22/9/2019, chị không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị K ý giao con chung Lê Khánh P, sinh ngày 02/5/2016, chị không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị O trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lê Du K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần các thông báo nhưng anh K vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về trình tự thủ tục: Thẩm phán và Hội Khánh xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Nguyên đơn thực hiện đúng qui định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70,72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ lời trình bày của nguyên đơn các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội K xét xử căn cứ vào các Điều 53, 56; Điều 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội K xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội K1 xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về thẩm quyền: Bị đơn anh Lê Du K nơi cư trú ấp Q, xã Q, tỉnh Vĩnh Long nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9-Vĩnh Long theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng:

- Chị Trần Thị Thúy O có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội Khánh xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị O.

- Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt cho anh K các văn bản tố tụng nhưng anh K đều không có mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh K.

Về hôn nhân: Năm 2013 chị O và anh K tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng nay là xã A, Thành phố Cần Thơ nên được cấp giấy chứng nhận vào ngày 09/5/2013. Việc kết hôn và đăng ký kết hôn là do các bên tự nguyện. Do đó, việc kết hôn và đăng ký kết hôn của chị O và anh K là phù hợp với quy định của pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị O cho rằng nguyên nhân chị yêu cầu ly hôn với anh K là do vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không còn tin tưởng nhau, cuộc sống không hạnh phúc nên khoảng hơn 01 năm nay chị và anh K không còn sống chung. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần các thông báo, quyết định của Tòa án nhằm tạo điều kiện để chị O và anh Khánh hòa G với nhau nhưng anh K vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa chị O và anh K đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị O đối với anh K là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội K1 xét xử chấp nhận. Do chị O và anh K1 không yêu cầu cấp dưỡng vợ chồng sau khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.

Về con chung: Chị O và anh K1 có 02 con chung tên Lê Thị Khánh V, sinh ngày 22/9/2019 và Lê Khánh P, sinh ngày 02/5/2016. Thấy rằng, từ khi chị O và anh K1 không còn sống chung đến nay con chung Lê Thị Khánh V do chị O trực tiếp nuôi, con chung Lê Khánh P do anh K1 trực tiếp nuôi.

. Lẽ đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu của chị O giao con chung Nguyễn Hoàng Â, sinh ngày 05/12/2023 cho chị O trực tiếp nuôi là phù hợp. Do chị O không yêu anh K1 phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

.

Anh Nguyễn Văn K2 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết anh Nguyễn Văn K2 có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và cấp dưỡng nuôi con, chị Lê Thị Lan O1 có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Do chị O1 trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Do chị O1 trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Lê Thị Lan O1 phải nộp theo quy định của pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 53, 56, 81, 82 và Điều 115 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Lê Thị Lan O1. Chị Lê Thị Lan O1 được ly hôn với anh Nguyễn Văn K2. Do chị O1 và anh K2 không yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡng vợ và chồng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.

2. Về con chung: Chị Lê Thị Lan O1 được trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Hoàng Â, sinh ngày 05/12/2023. Do chị O1 không yêu cầu anh K2 phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét, giải quyết.

Anh Nguyễn Văn K2 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết anh Nguyễn Văn K2 có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và cấp dưỡng nuôi con, chị Lê Thị Lan O1 có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị Lan O1 trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị Lan O1 phải nộp 300.000 Khánh nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004755 ngày 08 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long và đã nộp xong.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định.

Cỡ chữ