vanban.org

Bản án 197/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Ngô Hoàng M. Cho anh Ngô Hoàng M được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mộng Đ.

Về con chung: Công nhận sự tự nguyện của các đương sự: 1. Chị Nguyễn Thị Mộng Đ được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung tên Ngô Quốc T, sinh ngày 27/9/2009, Ngô Thị Thanh M1, sinh ngày 22/6/2012 và Ngô Thị Thanh T1, sinh ngày 22/6/2012. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Ngô Hoàng M. Cho anh Ngô Hoàng M được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mộng Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 197/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 21-8-2026
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nông Phú.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Tuấn Lam.

Bà Ngô Thị Lệ Nga.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp.

Ngày 21 tháng 8 năm 2026, tại Trụ sở 1 - Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 265/2026/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2026, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 362/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Ngô Hoàng M, sinh ngày 28/3/1982; Địa chỉ: Ấp L, xã L, tỉnh Đồng Tháp; Có đơn xin vắng mặt.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Mộng Đ, sinh ngày 06/6/1987; Địa chỉ: Ấp L, xã L, tỉnh Đồng Tháp; Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/3/2026, trong quá trình tiến hành tố tụng, nguyên đơn, anh Ngô Hoàng M, trình bày: Vào năm 2011, anh và chị Nguyễn Thị Mộng Đ kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện H (nay là xã L), tỉnh Đồng Tháp. Từ ngày sống chung với nhau thì có hạnh phúc, nhưng sau đó thì xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, đã ly thân từ tháng 9/2019 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm đã bị rạn nứt không thể hàn gắn lại được có sống chung cũng không còn hạnh phúc. Nay anh yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mộng Đ. Về con chung: Có 03 con chung tên Ngô Quốc T, sinh ngày 27/9/2009, Ngô Thị Thanh M1, sinh ngày 22/6/2012 và Ngô Thị Thanh T1, sinh ngày 22/6/2012. Hiện nay 03 cháu đang sống chung với chị Đ. Anh thống nhất giao 03 con chung cho chị Đ chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong các Văn bản trình bày ý kiến ngày 23 tháng 6 và 14 tháng 8 năm 2026, bị đơn chị Nguyễn Thị Mộng Đ, trình bày: Về hôn nhân: Qua yêu cầu ly hôn của anh Ngô Hoàng M, chị đồng ý ly hôn với anh M. Về con chung: Chị yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 con chung, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Anh Ngô Hoàng M khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Mộng Đ là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp, quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn anh M, bị đơn chị Đ đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Tòa án tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa anh Ngô Hoàng M và chị Nguyễn Thị Mộng Đ được pháp luật công nhận, vì có đăng ký kết hôn phù hợp quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Xét, yêu cầu của anh M là có căn cứ để chấp nhận, vì trong quá trình chung sống giữa anh M và chị Đ có phát sinh mâu thuẫn gia đình. Anh M2 và chị Đ không còn sống chung đã lâu vẫn không hàn gắn được. Chị Đ cũng đồng ý ly hôn. Điều này cho thấy hôn nhân giữa anh M2 và chị Đ không thể hàn gắn được, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Ngô Hoàng M được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mộng Đ là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh chị đã thống nhất chị Đ được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp nên công nhận. Về cấp dưỡng, chưa có yêu cầu, nên chưa xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên chưa xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn anh M phải chịu 300.000đ án phí ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp; anh M đã nộp đủ tiền án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9, 53, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Ngô Hoàng M. Cho anh Ngô Hoàng M được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mộng Đ.

2. Về con chung: Công nhận sự tự nguyện của các đương sự:

2.1. Chị Nguyễn Thị Mộng Đ được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung tên Ngô Quốc T, sinh ngày 27/9/2009, Ngô Thị Thanh M1, sinh ngày 22/6/2012 và Ngô Thị Thanh T1, sinh ngày 22/6/2012.

2.2. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Ngô Hoàng M chịu 300.000đ án phí ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0007637 ngày 14 tháng 5 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, anh Ngô Hoàng M đã nộp đủ tiền án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự đều không có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ