- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Biên - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự Tịch thu tiêu hủy; Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 197/2023/HS - ST Ngày 14 - 9 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Thôn.
2. Ông Lò Văn Viễn.
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Phương Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 198/2023/HSST ngày 25 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2023/QĐXXST - HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn B - Sinh năm 1968; Nơi cư trú: Bản P, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 3/10; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Lò Văn C (đã chết) và bà Lò Thị Q; Bị cáo có vợ là Lường Thị F và có 02 con (con lớn sinh năm 1988 con nhỏ sinh năm 1993); Tiền án: Bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tại bản án số 128/2019/HSST ngày 04/11/2019; tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 28/7/2000 bị Tòa án nhân dân huyện M xử phạt 26 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tại bản án số 27/2000/HSST.
- Năm 2017 bị TAND huyện M áp dụng biện pháp xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng.
Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 26/5/2023 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 15 phút ngày 26/5/2023 Tổ công tác Công an xã T, huyện M làm nhiệm vụ tại khu vực bản P, xã T, huyện M phát hiện Lò Văn B có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại túi áo ngực bên phải của B 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa 33 viên nén hình tròn màu hồng (B khai nhận là Hồng phiến). Tổ công tác lập B bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định.
Ngày 27/5/2023 tại cơ quan CSĐT Công an huyện M tiến hành mở niêm phong cân tịnh xác định khối lượng vật chứng nghi là ma túy, kết quả: 33 viên nén hình tròn màu hồng có tổng khối lượng 3,07 gam, trích 02 viên có khối lượng 0,18 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu B. Vật chứng còn lại 31 viên có tổng khối lượng 2,89 gam ký hiệu L.
Tại bản kết luận giám định số 1119 ngày 30/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu B là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,18 gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 3,07 gam, loại Methamphetamine”.
Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 25/5/2023 Lò Văn B đem theo số tiền 800.000đ đi bộ từ nhà lên bản X, xã V, huyện M để tìm mua ma túy về sử dụng. Đến địa phận bản X, B gặp một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 50 tuổi đang đi bộ ở trên đường, B đi đến hỏi người đàn ông này có bán ma túy không, người này bảo có và hỏi B lấy loại gì, B nói mua Hồng phiến với số tiền 800.000 đồng, đồng thời lấy tiền đưa cho người đàn ông, người này nhận tiền rồi đi vào phía trong bản một lúc sau quay lại đưa cho B 01 gói nilon màu hồng, B mở ra đếm có 40 viên Hồng phiến, B cất giấu gói ma túy vào trong túi áo ngực bên phải đang mặc đi về. Về nhà B lấy 04 viên Hồng phiến ra sử dụng bằng thức hít qua đường hô hấp vào cơ thể, đến khoảng 06 giờ sáng ngày 26/5/2023 B tiếp tục lấy 03 viên Hồng phiến ra sử dụng, số ma túy còn lại B gói và cất giấu tại túi áo ngực bên phải đang mặc, sử dụng xong B đi bộ lang thang ở khu vực bản P, xã Nậm Ty mục đích tìm người nghiện ma túy để bán ma túy kiếm lời, trong khi đang đi bộ trên đường thì bị Tổ công tác Công an xã T, huyện M kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 149/CT-VKSSM ngày 24 tháng 8 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Lò Văn B về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt Lò Văn B từ 03 năm tháng - 04 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi trừ đi mẫu gửi giám định cùng 01 mảnh nilon màu hồng và 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; Miễn án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận gì và khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau
- B bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 09 giờ 15 phút, ngày 26/5/2023 đối với Lò Văn B cùng vật chứng bị thu giữ là 33 viên nén hình tròn màu hồng; Kết luận giám định số 1119 ngày 30/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận là ma túy: “… Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 3,07 gam, loại Methamphetamine”.
- Lời khai bị cáo về việc đã thường xuyên sử dụng ma tuý nên ngày 25/5/2023 đã tìm mua được 40 viên hồng phiến của một người đàn ông dân Mông không quen biết với số tiền là 800.000đ mục đích mang về sử dụng và bán kiếm lời, về nhà đã sử dụng hết 07 viên, 33 viên còn lại bị cáo cất giấu vào trong túi áo ngực đang mặc sáng ngày 26/5/2023 bị cáo đi tìm người nghiện để bán ma túy kiếm lời thì bị phát hiện bắt quả tang.
- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với B bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 26/5/2023 khi bị cáo đang có hành vi tàng trữ 3,07 gam loại Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ “02 năm đến 07 năm tù”.
Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo có bố đẻ được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo có một tiền án chưa được xóa án tích lại phạm tội mới thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bên cạnh đó bị cáo cũng có nhân thân rất xấu đã từng bị xử phạt tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và đã bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo vẫn không từ bỏ được ma túy mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội về ma túy cho thấy tính khó giáo dục, cải tạo của bị cáo.
Về tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.
Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và khối lượng ma túy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội để đưa ra một mức án phù hợp nhất, nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và cũng đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
Số ma túy thu giữ còn lại sau khi trừ đi mẫu gửi giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành và 01 mảnh nilon, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là những vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án:
Về người đàn ông dân tộc Mông bị cáo khai là người đã bán ma túy bị cáo khai không biết rõ tên, địa chỉ cụ thể nên CQCSĐT không mở rộng điều tra vụ án là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn và đã xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung.
Về đề xuất áp dụng mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Tại phiên tòa kiểm sát viên đề xuất xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng - 04 năm tù là có phần chưa nghiêm khắc và chưa tương xứng với các đặc điểm về nhân thân, khối lượng ma túy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, nên cần xử phạt bị cáo ở mức cao hơn so với đề xuất của đại diện Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Lò Văn B phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lò Văn B 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/5/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự
Tịch thu tiêu hủy: 2,89 gam Methamphetamine được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Tất cả được đựng trong 01 phong bì đã dán kín, niêm phong đúng quy định, mặt sau phong bì trên giấy niêm phong có mã số 064410
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 141/QĐ – VKS ngày 24/8/2023 của VKSND huyện Sông Mã và theo B bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/8/2023 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/9/2023).
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - VKSND huyện - Công an huyện; - Trại giam; - THA hình sự ; - CCTHA Dân sự; - Sở TP; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Nhung |