- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xác định cha cho con"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Văn T về việc “Xác định cha cho con”.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 197/2022/HNGĐ-ST Ngày: 31/5/2022 V/v: Xác định cha cho con. |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Sơn;
Ông Vương Đình Quang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân
quận Nam Từ Liêm.
- Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thùy Dương – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 138/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2022 về việc “Xác định cha cho con” giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Văn T, sinh 1978. Địa chỉ: Tổ 1, phường C, quận N, Hà Nội (có mặt).
- Bị đơn: Chị Tạ Thị Thanh T, sinh 1991. Địa chỉ: Số 18, ngõ 349, phường H, Hà Nội (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn Tr, sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện V, tỉnh Y (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Anh Phạm Văn T trình bày: Tôi với chị Tạ Thị Thanh T có quan hệ tình cảm và sống chung với nhau, giữa tôi với chị Tạ Thị Thanh T không đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống với nhau, tôi với chị Tạ Thị Thanh T có con chung là cháu Phạm Nhật Th hay Phạm Văn Nhật Th (tên dự kiến).
- Theo Giấy chứng sinh số: 002947 Quyển số 31 ngày 27 tháng 9 năm 2021, thì Cháu Phạm Nhật Th được sinh ra tại bệnh viện B vào hồi 03 giờ 10 phút ngày 24 tháng 9 năm 2021. Tại phần họ và tên mẹ có ghi tên mẹ cháu là Tạ Thị Thanh T. Tại phần họ và tên cha có ghi tên cha là Phạm Văn T (là tôi).
- Theo Kết quả xét nghiệm AND số: 2115121/DNA ngày 30 tháng 9 năm 2021 của Công ty G, thì tại phần kết luận có ghi: PHẠM VĂN T có quan hệ huyết thống bố - con với người có tên dự kiến PHẠM VĂN NHẬT TH (tên trên giấy chứng sinh Phạm Nhật Th), độ tin cậy > 99,9999%.
Căn cứ vào Giấy chứng sinh, Kết quả xét nghiệm AND thì có thể khẳng định cháu Phạm Nhật Th hay Phạm Văn Nhật Th (tên dự kiến) là con đẻ của tôi.
Sau khi không làm được giấy khai sinh cho cháu Th tôi mới biết khi quen biết tôi và sinh ra cháu Phạm Nhật Th, thì chị Tạ Thị Thanh T đang có quan hệ hôn nhân hợp pháp với anh Trần Văn Tr. Chị Tạ Thị Thanh T với anh Trần Văn Tr đã ly hôn, theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của đương sự số: 07/2022/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Y. Quyết định cũng nêu rõ: Chị Tạ Thị Thanh T với anh Trần Văn Tr có 01 con chung là cháu Trần Quang H, sinh ngày 02/11/2012.
Hiện nay, tôi với chị Tạ Thị Thanh T đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, chúng tôi không còn có quan hệ gì với nhau. Tôi và chị Tạ Thị Thanh T đã có thỏa thuận là tôi sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Nhật Th (hay Phạm Văn Nhật Th). Theo thỏa thuận và thực tế thì hiện nay tôi là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Nhật Th (hay Phạm Văn Nhật Th) tại địa chỉ: Tổ 1, phường C, quận N, Hà Nội.
Cháu Phạm Nhật Th hay Phạm Văn Nhật Th (tên dự kiến) được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của chị Tạ Thị Thanh T với anh Trần Văn Tr nên chúng tôi không thể làm giấy khai sinh cho cháu mang tên mẹ là chị T, bố là tôi được.
Để đảm bảo quyền lợi cho cháu Phạm Nhật Th (hay Phạm Văn Nhật Th), quyền làm cha của mình và thuận tiện trong việc thực hiện các thủ tục hành chính có liên quan đến cháu sau này, tôi đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Hà Nội giải quyết: “Xác định cháu Phạm Nhật Th hay Phạm Văn Nhật Th là con đẻ của tôi”.
Chị Tạ Thị Thanh T trình bày: Tôi có chồng là anh Trần Văn Tr. Trong thời gian tôi và anh Tr ly thân, tôi có quan hệ tình cảm và sống chung với anh Phạm Văn T. Chúng tôi có con chung là cháu Phạm Nhật Th (hay Phạm Văn Nhật Th). Theo Giấy chứng sinh số: 002947 Quyển số 31 ngày 27 tháng 9 năm 2021, thì cháu Phạm Nhật Th được sinh ra tại bệnh viện B vào hồi 03 giờ 10 phút ngày 24 tháng 9 năm 2021. Tại phần họ và tên mẹ có ghi tên mẹ là Tạ Thị Thanh T. Tại phần họ và tên cha có ghi tên cha là Phạm Văn T. Theo Kết quả xét nghiệm AND số: 2115121/DNA ngày 30 tháng 9 năm 2021 của Công ty G, thì tại phần kết luận có ghi: PHẠM VĂN T CÓ quan hệ huyết thống bố - con với người có tên dự kiến PHẠM VĂN NHẬT TH (tên trên giấy chứng sinh Phạm Nhật Th), độ tin cậy > 99,9999%.
Tôi với anh Trần Văn Tr đã ly hôn, theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của đương sự số: 07/2022/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Y. Tôi với anh Trần Văn Tr chỉ có 01 con chung là cháu Trần Quang H, sinh ngày 02/11/2012. Cháu Phạm Nhật Th không phải con chung của tôi với anh Tr. Cháu Phạm Nhật Th (hay Phạm Văn Nhật Th) hiện nay do anh T trực tiếp nuôi dưỡng.
Nay, anh T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Hà Nội “Xác định cháu Phạm Nhật Th hay Phạm Văn Nhật Th là con đẻ của anh T” tôi đề nghị Tòa án chấp nhận và xác nhận cháu Phạm Nhật Th hay Phạm Văn Nhật Th là con đẻ của anh Phạm Văn T.
Anh Trần Văn Tr trình bày: Tôi với chị Tạ Thị Thanh T đã ly hôn, theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của đương sự số: 07/2022/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Y. Tôi với chị Tạ Thị Thanh T chỉ có một con chung là cháu Trần Quang H, sinh ngày 02/11/2012. Cháu Phạm Nhật Th không phải con chung của tôi với chị T. Tôi không có liên quan đến cháu Th và anh T. Nay, anh T yêu cầu xác định cháu Th là con của anh đề nghị Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa giải quyết vắng mặt tôi.
Tại phiên tòa:
- Anh Phạm Văn T trình bày: Tôi vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử xác định cháu Phạm Nhật Th là con đẻ của tôi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm phát biểu ý kiến: Việc thụ lý, giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX tại phiên tòa sơ thẩm cũng như việc chấp hành pháp luật của các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tạm đình chỉ giải quyết vụ án và chuyển hồ sơ sang cơ quan Công an quận Nam Từ Liêm xem xét việc vi phạm chế độ một vợ một chồng của chị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thẩm quyền: Nguyên đơn - Anh Phạm Văn T có địa chỉ tại TDP số 1, phường C, quận N, Hà Nội. Bị đơn - Chị Tạ Thị Thanh T, có địa chỉ: Số 18, ngõ 349, phường H, Hà Nội. Ngày 15/3/2022, anh T và chị T có văn bản thỏa thuận về việc lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp. Anh, chị đã thỏa thuận Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, giải quyết yêu cầu “Xác định cha cho con” theo nơi cư trú của anh T. Vì vậy, Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về tố tụng: Đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo của anh Phạm Văn T đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị Tạ Thị Thanh T và anh Trần Văn Tr có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Tr và chị T.
- Xét yêu cầu của anh Phạm Văn T, Hội đồng xét xử thấy:
Chị Tạ Thị Thanh T có chồng là anh Trần Văn Tr. Tháng 01/2022, chị T, anh Tr ly hôn (Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của đương sự số: 07/2022/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Y).
Cháu Phạm Nhật Th được sinh ra tại bệnh viện B vào hồi 03 giờ 10 phút ngày 24 tháng 9 năm 2021 - Theo Giấy chứng sinh số: 002947 Quyển số 31 ngày 27 tháng 9 năm 2021, thì tại phần họ và tên mẹ có ghi tên mẹ cháu là Tạ Thị Thanh T. Tại phần họ và tên cha có ghi tên cha là Phạm Văn T.
Trong thời gian quan hệ tình cảm với anh Phạm Văn T, chị Tạ Thị Thanh T và anh Trần Văn Tr chưa được Toà án giải quyết cho ly hôn, vì vậy cháu Phạm Nhật Th, sinh ngày 27 tháng 9 năm 2021 được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Tạ Thị Thanh T và anh Trần Văn Tr.
Cháu Phạm Nhật Th được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Tạ Thị Thanh T và anh Trần Văn Tr nên theo quy định tại khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình cháu Th sẽ được xác định là con chung của anh Tr, chị T.
Thực tế, khi quan hệ với chị T, anh T không biết chị T đang có chồng con hợp pháp. Sau khi sinh cháu Th, anh T mới biết nên anh và chị T đã xảy ra mâu thuẫn, anh chị không còn chung sống với nhau. Chị T và anh Tr sống ly thân từ năm 2017 cho đến năm 2022 anh chị thuận tình ly hôn. Anh Tr cũng khẳng định cháu Th không phải con chung của anh và chị T, anh không có liên quan gì.
Theo Kết quả xét nghiệm AND số: 2115121/DNA ngày 30 tháng 9 năm 2021 của Công ty G, thì tại phần kết luận có ghi: PHẠM VĂN T có quan hệ huyết thống bố - con với người có tên dự kiến PHẠM VĂN NHẬT TH (tên trên giấy chứng sinh Phạm Nhật Th), độ tin cậy > 99,9999%.
Qua lời khai của các đương sự, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định: Anh Phạm Văn T là cha đẻ của cháu Phạm Nhật Th (hay Phạm Văn Nhật Th) sinh ngày 24 tháng 9 năm 2021 - Theo Giấy chứng sinh số: 002947 Quyển số 31 ngày 27 tháng 9 năm 2021. Việc anh Phạm Văn T khởi kiện đề nghị Toà án xác định anh là cha đẻ của cháu Th là phù hợp với thực tế, đảm bảo quyền lợi cho cháu Th, đúng quy định của pháp luật tại Điều 89, Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình, cần được chấp nhận.
Như vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn. Xác định anh Phạm Văn T là cha đẻ của cháu Phạm Nhật Th (hay Phạm Văn Nhật Th) sinh ngày 24 tháng 9 năm 2021 mà không Tạm đình chỉ giải quyết vụ như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tại phiên tòa.
- Về án phí: Anh Phạm Văn T không phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 88, Điều 89, Điều 91, Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào Điều 39 Bộ luật dân sự; Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH Khoá 14 quy định về án phí, lệ phí Toà án. Xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Văn T về việc “Xác định cha cho con”.
2/ Xác định anh Phạm Văn T là cha đẻ của cháu Phạm Nhật Th (hay Phạm Văn Nhật Th) - Theo Giấy chứng sinh số: 002947 Quyển số 31 ngày 27 tháng 9 năm 2021 của Bệnh viện B và Theo Kết quả xét nghiệm AND số: 2115121/DNA ngày 30 tháng 9 năm 2021 của Công ty G.
3/ Về án phí: Anh Phạm Văn T không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại anh T số tiền tạm ứng án phí anh đã nộp 300.000đ theo BL số 0034259 ngày 15/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hà Nội; - VKS Q. Nam Từ Liêm; - VKS TP.Hà Nội; - Chi cục THADS Q. Nam Từ Liêm; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị An |