- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Luật Người cao tuổi năm 2010;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Người cao tuổi; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 197/2022/HNGĐ-ST Ngày: 31/5/2022. V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Hồng Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đinh Kim Hoàng
2. Bà Võ Thanh Nga
Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 217/2021/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2022/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 231/2022/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị L1, sinh năm 1957
Nơi cư trú: đường N, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: đường H, phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(có đơn xin vắng mặt)
Bị đơn: Ông Lê Văn L2, sinh năm 1956
Nơi cư trú: đường N, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị L1 trình bày:
Bà và ông Lê Văn L2 tự nguyên chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình chung sống cuộc sống của bà và ông L2 phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân chính là ông L2 bạo hành gia đình, thường xuyên đánh đập bà, có những lời nói khiếm nhã với gia đình bà, ông L2 không có trách nhiêm với gia đình. Từ khoảng năm 1998, mặc dù bà và ông L2 chung sống chung một nhà, nhưng giữa bà và ông L2 không có quan tâm lẫn nhau, không chung sống như vợ chồng. Đến tháng 3/2021, bà đã dọn nhà ra ở riêng. Từ đó cho đến nay, bà và ông L2 không có liên lạc và không quan tâm lẫn nhau.
Nay bà L1 xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn L2.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Thị Yến L3, sinh ngày 21/4/1989 (đã trưởng thành).
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Bà Lê Thị L1 xác nhận không có.
Bị đơn ông Lê Văn L2: Tòa án đã triêu tập ông L2 tham gia tố tụng để ghi lời khai; tham gia phiên họp kiểm tra viêc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông L2 vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa:
Bà Lê Thị L1 có đơn xin vắng mặt; ông Lê Văn L2 đã được Tòa án triêu tập hợp lê tham gia phiên tòa đến lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Đại diên Viên kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Qua kiểm sát viêc tuân theo pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiên đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Lê Thị L1; Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Thị Yến L3, sinh ngày 21/4/1989 (đã trưởng thành); Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Bà Lê Thị L1 xác nhận không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liêu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diên Viên kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
- Quan hê tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Xét hôn nhân giữa bà Lê Thị L1 và ông Lê Văn L2 đã được Ủy ban nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 28 ngày 23/9/1985. Bà L1 yêu cầu ly hôn với ông L2, nên có đủ cơ sở xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về tranh chấp ly hôn;
Hiên nay, ông L2 đang cư trú tại Quận 4, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Thủ tục mở phiên tòa vắng mặt đương sự:
Bà Lê Thị L1 có đơn xin vắng mặt và ông Lê Văn L2 đã được Tòa án triêu tập hợp lê lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
. Về nội dung:
. Về quan hê hôn nhân:
Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 28 do Ủy ban nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/9/1985, cùng lời khai của bà Lê Thị L1 về viêc các đương sự tự nguyên kết hôn với nhau, nên có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà L1 và ông L2 là hôn nhân hợp pháp.
Nay bà L1 yêu cầu ly hôn với ông L2, Hội đồng xét xử nhận thấy: Cuộc sống vợ chồng giữa bà L1 và ông L2 thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Từ tháng 3/2021 cho đến nay, bà L1 và ông L2 không còn chung sống với nhau. Mặc dù, kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân Phường 18, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiên: “Địa phương không có thông tin mâu thuẫn cũng như chưa giải quyết mâu thuẫn hôn nhân giữa bà L1 và ông L2”. Tuy nhiên, Tòa án đã triêu tập ông L2 tham gia tố tụng nhiều lần nhằm tạo điều kiên cho bà L1 và ông L2 cùng nhau khắc phục mâu thuẫn để đoàn tụ, xây dựng hạnh phúc gia đình, nhưng ông L2 vẫn vắng mặt không có lý do. Điều này thể hiên ông L2 không còn tha thiết gì cuộc hôn nhân này, không có thiên chí đoàn tụ và tiếp tục chung sống với bà L1.
Xét hôn nhân chỉ đạt được mục đích trên cơ sở vợ chồng phải yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và cùng nhau chia sẻ các công viêc trong gia đình. Bên cạnh đó, vợ chồng phải có nghĩa vụ chung sống với nhau. Đây là quyền và nghĩa vụ vợ chồng đã được pháp luật ghi nhận. Đối chiếu với cuộc sống hôn nhân giữa bà L1 và ông L2, có đủ cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa bà L1 và ông L2 không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, quan hê hôn nhân này không có điều kiên xây dựng vun đắp lại tình cảm. Do đó, bà L1 yêu cầu ly hôn với ông L2 là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
. Về con chung: Căn cứ vào Giấy khai sinh số 078, quyển số 01/C18 ngày 27/4/1989 của Ủy ban nhân dân Phường 18, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh có đủ cơ sở xác định bà L1 và ông L2 chung sống với nhau có 01 con chung tên là Lê Thị Yến L3, sinh ngày 21/4/1989. Xét con chung đã trưởng thành, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Bà Lê Thị L1 khai nhận không có, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
. Về án phí sơ thẩm: Do bà Lê Thị L1 là người cao tuổi, nên được miễn toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Luật Người cao tuổi năm 2010;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lê phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiên của bà Lê Thị L1 về viêc xin ly hôn với ông Lê Văn L2.
- Về quan hê hôn nhân: Bà Lê Thị L1 được ly hôn với ông Lê Văn L2.
(theo Giấy chứng nhận kết hôn số 28 do Ủy ban nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/9/1985).
- Về con chung: Bà Lê Thị L1 và ông Lê Văn L2 có 01 con chung tên là Lê Thị Yến L3, sinh ngày 21/4/1989 (đã trưởng thành), nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Bà Lê Thị L1 khai nhận không có, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị L1 được miễn toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiêu thi hành án được thực hiên theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND TP. HCM; - VKSND Quận 4; - Chi cục THADS Quận 4; - UBND Phường 18, Quận 4; - Lưu: Vp, hồ sơ (12). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Trần Hồng Loan |